Phụng vụ tưởng nhớ các tín hữu đã qua đời

Chúng ta đang trong tháng mười một, tháng dành để tưởng nhớ và cầu nguyện đặc biệt cho những người quá cố. Hôm nay chúng ta tìm hiểu xem phụng vụ cử hành việc tưởng nhớ và cầu nguyện thế nào cho những người tín hữu đã qua đời trong Chúa Kitô.

I. PHỤNG VỤ CỬ HÀNH VIỆC TƯỞNG NIỆM CÁC TÍN HỮU QUA ÐỜI

Tìm hiểu phụng vụ, chúng ta thấy có nhiều nghi thức Giáo hội đã cử hành để tưởng nhớ và cầu nguyện cho con cái mình đã qua đời.

1) Ngày 2 tháng 11 : tưởng nhớ các tín hữu đã qua đời

Hằng năm Giáo hội dành ngày mồng hai tháng mười một để tưởng nhớ tất cả các tín hữu đã qua đời. Ngoài tính cách phụng vụ, ngày này có tính cách mục vụ đặc biệt, vì thế chữ đỏ đã nghi lại như sau : Dù ngày 2 tháng mười một trùng vào ngày Chúa Nhật, lễ này vẫn cử hành (Sách lễ Rôma, bản mẩu tiến Việt nam thứ II, 1992, tr. 723). Ðối với việc cử hành Các Giờ Kinh phụng vụ, khi ngày 2/11 trùng vào ngày Chúa Nhật, thì vẫn cử hành  Các giờ kinh phụng vụ theo ngày Chúa nhật. Tuy nhiên nếu vì lý do mục vụ, người ta có thể cử hành giờ Kinh Sáng và giờ Kinh Chiều khi có giáo dân tham dự (Sách Liturgia Horarum, ấn bản tiếng latinh, lần II 1984, cuốn thứ IV, tr. 1336, điểm chữ đỏ này không được ghi lại trong bản dịch tiếng Việt). Ngoài ra trong ngày 2/11, các linh mục còn được phép cử hành 3 thánh lễ, một thánh lễ cầu cho các đẳng linh hồn; môt cầu theo ý Ðức Thánh Cha, và một theo ý của linh mục. Ðây là Phép rộng của Ðức Giáo Hoàng Benedictô XV, ban cho các linh mục, văo năm 1915).

Sách Nghi thức giám mục (Caeremoniale Episcoporum, được tu chính và công bố nào năm 1984), chương XVI, đã ghi những điểm giúp giám mục cử hành thánh lễ trong ngày tưởng nhớ các tín hữu đã qua đời, ngày 2/11, như sau : vào ngày 2/11, các ngài nên cử hành thánh lễ với cộng đoàn dân Chúa để cầu cho các đẳng; sau thánh lễ có cử hành việc rảy nước thánh và xông hương trên các mộ nơi đất thánh hay mộ của các vị giám mục của giáo phận.

Về lịch sử việc thành hình ngày tưởng nhớ các tín hữu đã qua đời vào ngày 2 tháng 11, chúng ta có thể tóm lược như sau:

Từ thời thánh Augustinô, đã có thói tục cầu nguyện cho các người chết, cả ngoài dịp kỷ niệm giỗ họ và thánh nhân ca tụng thói tục này. Vào thế kỷ thứ 7 trong một số cộng đoàn dòng tu đan sĩ, có thói quen để một ngày cầu nguyện cho các người đã quá cố. Vào thế kỷ thứ 9, thì thấy xuất hiện việc tưởng nhớ các đẳng linh hồn, vì người ta suy nghĩ rằng, đây là vấn đề hợp lý, khi tôn kính các thánh, thì cũng có việc tưởng nhớ các người đã an nghỉ trong Chúa Kitô, cho dù lúc đó chưa có việc mừng lễ các thánh. Mãi cho tới khi Tu viện trưởng là thánh Odilone của Tu viện Biển Ðức ở Cluny bên Pháp vào thế kỷ thứ 10 truyền cho các tu viện thuộc quyền ngài cử hành lễ này, thì việc tưởng nhớ các tín hữu đã qua đời mới được ấn định vào ngày 2 tháng 11. Vào thế kỷ thứ 14 thì tập tục dành ngày 2 tháng 11 để cầu cho các đẳng linh hồn, đã lan sang Rôma. Vào thế kỷ thứ 15, các cha dòng Ða minh ở Valence (bên Tây ban nha) đã thêm vào buổi tưởng nhớ này việc cử hành 3 thánh lễ như các linh mục vẫn thường cử hành trong đại lễ Giáng sinh, với mục đích để làm cho hết số các lễ giáo hữu đã xin. Về sau Ðức Giáo hoàng Benedicto thứ 15 đã ban phép cho tất cả các linh mục được cử hành 3 lễ trong ngày 2 tháng 11, với mục đích để cầu cho các người đã chết trong trận chiến thứ I (1914-1918). Ngài cũng truyền đem vào trong bản văn lễ cầu hồn Kinh tiền tụng lấy từ sách lễ của giáo phận Paris (1783).

2) Sách Lễ Rôma

Trong Sách Lễ Rôma, đã có một phần các bản văn cử hành thánh lễ cầu cho các các tín hữu đã qua đời.

Ngày 2 tháng 11 có ba bản văn lễ. Còn trong phần các thánh lễ cầu hồn, chúng ta có nhiều bản văn thánh lễ cầu hồn, được chia ra hư sau:

* Thánh lễ an táng: có ba bản văn lễ dùng ngoài mùa phục sinh và trong mùa phục sinh, và một bộ lời nguyện khác dùng trong dịp an táng mà không có những bài ca tiền xướng nhập lễ, dâng lễ vật và chịu lễ.

* Thánh lễ trong các dịp giỗ, dịp kỷ niệm người quá cố: gồm có 3 công thức đầy đủ dùng trong và ngoài mùa phục sinh, cộng thêm 2 bộ lời nguyện dùng trong các dịp này.

* Thánh lễ trong các dịp tưởng nhớ khác: ở đây chúng ta có các bộ lễ cầu nguyện cho từng hạng người quá cố : như cầu cho một người đã qua đời (2 bộ lễ); cho nhiều người hoặc mọi người đã qua đời (3 bộ lễ)

* Các lời nguyện cho những trường hợp đặc biệt: cầu cho Ðức Giáo hoàng (3 bộ lễ); cầu cho đức giám mục (cho giám mục địa phận và cho giám mục khác); cầu cho linh mục (2 bộ lễ); cầu cho phó tế; cầu cho tu sĩ; cầu cho một tín hữu đã qua đời (3 bộ lễ); cầu cho một thanh niên hay thiếu nữ qua đời; cầu cho một vị dày công rao giảng Tin mừng; cầu cho người quá cố chịu bệnh lâu dài; cầu cho người chết bất ưng; cầu cho nhiều người đã qua đời (3 bộ lễ); cầu cho đôi vợ chồng đã qua đời; cầu cho cha mẹ đã qua đời; cầu cho thân nhân và ân nhân đã qua đời.

* Thánh lễ an táng trẻ em: trẻ em đã lãnh nhận bí tích rửa tội (2 bộ lễ); cầu cho trẻ em chưa lãnh nhận bí tích rửa tội.

Như vậy trong Sách Lễ Rôma, chúng ta đã có 15 bộ lễ trọn vẹn (gồm các bài ca tiền xướng nhập lễ, ca chịu lễ và 3 lời nguyện đầu lễ, trên lễ vật và hiệp lễ), và 22 bộ lời nguyện (gồm lời nguyện nhập lễ, trên lễ vật và hiệp lễ) cho tín hữu đã qua đời (xc. Missale Romanum, editio typica altera, 1975, Missae defunctorum, p. 879-914 ; Sách lễ Rôma ấn bản mẫu tiếng Việt-Nam,thứ II, năm 1992, tr. 998-1034).

Ngoài ra trong Sách lễ Rôma, ấn bản tiếng Việt-Nam năm 1992, chúng ta còn có thêm Thánh lễ ngày Mồng Hai Tết, Kính nhớ tổ tiên và ông bà cha mẹ.

Về việc xử dụng các bộ lễ và các bộ lời nguyện này, Sách lễ Rôma đã có điểm chữ đỏ chỉ dẫn như sau : Dù toàn bộ các lễ với các lời ca và lời nguyện được đề nghị nhằm mục đích tiện dụng, nhưng mọi bản văn đều có thể thay đổi lẫn cho nhau, nhất là các lời nguyện, chỉ cần thay đổi cho thích hợp với từng hoàn cảnh về giới nam hay giới nữ, về số ít hay số nhiều mà thôi. Cũng vậy, các lời nguyện đề nghị cho lễ an táng hay lễ giỗ, nếu dùng trong những hoàn cảnh khác thì bỏ những lời không thích hợp mấy . Ðiểm chữ đỏ này được soạn ra theo chỉ thị của Công đồng chung Vaticanô II về việc canh tân phụng vụ, làm sao cho buổi cử hành phụng vụ được thay đổi, có những bản văn Kinh thánh, lời kinh dồi dào, phong phú, thay đổi thích nghi cho những hoàn cảnh khác nhau, cho các loại người khác nhau. Nhờ đó, tín hữu có thể tham dự một cách tích cực và sống động hơn; để làm cho buổi cử hành lễ cầu cho người quá cố đỡ nhàm chán, độc điệu. Ðây là một yếu tố rất tích cực, tuy nhiên đòi linh mục phải chuẩn bị trước, để chọn bộ lễ hay lời nguyện cho thích hợp; thay vì bước vào cử hành thánh lễ mà không biết phải đọc bộ lễ nào, hoặc phải tìm ở chỗ nào trong Sách Lễ Rôma.

Sau cùng chúng ta phải nói thêm một lời về các lời nguyện hiệp lễ (oratio postcommunionem). Nếu chúng ta lưu tâm, thì nhận ra ngay hầu hết các lời nguyện này hướng về thánh thể vừa lãnh nhận và cầu xin ơn được cuộc sống vĩnh cửu mai sau, hoặc được tham dự vào bàn tiệc thiên quốc... Ðó là các ơn xin có tính cách cánh chưng. Giáo hội xin các ơn này cho con cái của mình đang họp nhau trong buổi cử hành thánh thể, nhưng chắc chắn Giáo hội cũng cầu xin ơn đó cho các con cái đã qua đời.

3) Sách Bài đọc sách thánh trong thánh lễ (Lectionarium Romanum, editio typica altera 1981)

Song song với các Thánh lễ cầu cho tín hữu đã qua đời, Sách các Bài đọc Sách thánh trong thánh lễ, cũng có ghi các bài đọc sách thánh dùng trong các lễ cầu hồn, được trích ra từ Cựu ước (9 bản văn), thánh vịnh (10), Thư các tông đồ (26 bản văn), và từ Sách Tin mừng (27 bản văn).

4) Nghi thức Thánh lễ (Ordo Missae)

Các kinh nguyện thánh thể có phần tưởng nhớ những người đã quá cố (Commemoratio defunctorum) bằng một công thức chung, cầu cho tất cả các người đã nghỉ yên trong Chúa Kitô, hoặc bằng một công thức riêng (trừ Kinh nguyện thánh thể thứ IV), để tưởng nhớ một cách đặc biệt tới một người tín hữu .

Nghi thức thánh lễ còn có 5 kinh tiền tụng dùng trong thánh lễ cầu cho người quá cố. Ở phần cuối Nghi thức thánh lễ, chúng ta có một công thức chúc lành trọng thể, dùng trong thánh lễ cầu hồn và một công thức Lời nguyện giáo dân dùng trong thánh lễ này.

5) Sách các giờ kinh phụng vụ (Liturgia Horarum)

Nếu mở Sách Các giờ kinh phụng vụ, chúng ta cũng thấy Giáo hội tưởng nhớ và cầu nguyện cho các tín hữu đã an nghỉ trong Chúa Kitô : đó là việc cử hành Phụng vụ giờ kinh cầu cho các đẳng linh hồn (Officium defunctorum) : gồm đầy đủ các giờ kinh : như giờ Kinh sách, Kinh sáng, giờ Kinh giữa ngày, giờ Kinh Chiều và giờ Kinh đêm.

Ngoài ra trong Lời cầu khẩn của Kinh Chiều, vẫn có ý chỉ sau cùng bao giờ cũng hướng về các tín hữu đã qua đời và cầu nguyện cho họ.

6) Sách Nghi thức an táng (Ordo exsequiarum)

Một cách đặc biệt phụng vụ của Giáo hội đã cử hành nghi thức phụng vụ cho tín hữu vừa qua đời trong dịp an táng của họ. Ðây là một chứng cớ rõ ràng không cần bình luận, nhưng nghi thức này cần được tìm hiểu một cách riêng biệt hơn để nhận ra nội dung thần học sâu xa, lời kinh sốt sắng và các cử chỉ, biểu hiệu dùng trong Nghi thức an táng. Chúng ta sẽ bàn về Sách Nghi thức an táng trong một dịp khác.

Tất cả các chỉ dẫn trên đây cho thấy mối quan tâm của Giáo hội đối với con cái đã an nghỉ trong Chúa Kitô và đã biểu lộ ra bên ngoài trong việc cử hành phụng vụ cho họ.

7) Các việc đạo đức bình dân để tôn kính và tưởng nhớ, cũng như cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời

Ngoài các buổi cử hành phụng vụ, chúng ta còn có thể nêu lên một số việc đạo đức bình dân, được Giáo hội cho phép, để tín hữu tưởng nhớ, tỏ lòng tôn kính và cầu nguyện cho các anh chị em trong đức tin, đã qua đời.

a) Việc lãnh nhận ân xá cầu cho các đẳng linh hồn

Trong Sách Mục lục các ân xá, có 70 trường hợp được lãnh ơn toàn xá và ơn xá từng phần, mà chúng ta có thể chỉ cho các linh hồn nơi luyện ngục, vì ân xá có một hiệu quả là tha thứ hình phạt tạm, nếu còn vướng mắc, sau khi đã được tha thứ các tội. Có hai trường hợp, ơn xá chỉ có thể được áp dụng cho các linh hồn nơi luyện ngục, như trường hợp thứ 45, khi đọc kinh Lạy Chúa xin cho các linh hồn được nghỉ yên muôn đời và được hưởng ánh sáng ngàn thu. Amen. Số 67 : Viếng nhà thờ, nhà nguyện, ngày lễ các Ðẳng linh hồn và đọc kinh Lạy Cha, Kinh tin kính : ơn toàn xá. Ơn xá này chỉ có thể chỉ cho các Ðẳng mà thôi.

b) Việc viếng nghĩa địa

Việc viếng nghĩa địa trong ngày Lễ tưởng nhớ các tín hữu đã qua đời (2/11) hoặc các ngày giỗ, ngày đầu xuân mới, dịp tiết thanh minh, và các ngày khác. Ðây là việc việc thánh thiện và đáng khích lệ, vì vừa biểu lộ đức tin vào việc xác loài người ngày sau sống lại, vừa biểu lộ chữ hiếu của chúng ta đối với người đã quá cố, là tổ tiên, là ông bà cha mẹ, là anh chị em, họ hàng, thân nhân, ân nhân...

Việc bảo trì và tôn kính nghĩa địa

Giáo luật đã nói rõ ràng về nghĩa địa (các khoản 1240-1243):

- mỗi cộng đoàn, nếu được, liệu có nghĩa địa công giáo riêng

- nghĩa địa là nơi thánh, phải được làm phép; nếu không có nghĩa địa riêng, thì mỗi lần chôn cất phải làm phép từng phần mộ

- không được táng xác một ai trong nhà thờ, trừ trường hợp giám mục giáo phận, tại chức hay hồi hưu

- cần bảo trì nghĩa địa, và đề cao tính cách thánh thiện của nó.

c) Tháng 11 tưởng nhớ và cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục

Ðây là thói quen tốt lành để chúng ta tưởng nhớ và cầu nguyện cho các linh hồn: qua việc tham dự thánh lễ, xin lễ, đọc kinh cầu cho các linh hồn, việc thăm viếng nghĩa địa và các người quá cố, làm các việc lành phúc đức, hy sinh hãm mình cầu cho các đẳng linh hồn.

II. LỊCH SỬ VIỆC TÔN KÍNH NGƯỜI CHẾT TRONG KITÔ GIÁO VÀ TRONG PHỤNG VỤ KITÔ GIÁO

Chúng ta phải nói rằng việc tôn kính người chết là một hành vi thiêng liêng và nhân bản tồn tại trong mọi dân tộc và mọi nền văn hóa. Tại các nơi chúng ta đều thấy có những nghi thức tôn kính, chôn cất người chết và tưởng nhớ người chết rất là khác biệt và phong phú. Do thái giáo có những chi tiết tỉ mỉ liên quan tới việc an táng, tẩm liệm người quá cố (xc. Mt 23,2(), như trong nghi thức an táng của ông Lazarô (xc. Ga 11,44), của cậu con trai bà góa thành Naim (xc. Lc 7,11-17), và cho chính Chúa Giêsu (xc Mt 27,57-61; Mc 16, 42-47; Lc 25, 50-56; Ga 19, 38-42). Rồi những thời gian để tang người quá cố, như trong Cựu ước đã mô tả lại (St 23,1-9...) và như trường hợp tín hữu đầu tiên để tang thánh Têphanô (Cv 8,3). Kitô giáo đã giữ lại một số tập tục về việc tôn kính người chết trong niềm tin tưởng vào sự sống lại của thân xác con người. Ðàng khác, họ cũng thích nghi một số tập tục lễ nghi ngoại giáo, hoặc kitô giáo hóa một số lễ nghi này. Chúng ta có trường hợp ngày lễ kính tòa thánh Phêrô, 22 tháng 2. Ðó là lễ cuối năm của người Rôma vào thời Hoàng đế Cesarê. Cuối năm này thường nhằm vào tháng 2. Người Rôma dành thời gian từ 13-22/2 để tưởng nhớ những người quá cố trong gia đình. Ngày 22 là ngày cuối cùng, họ tụ tập nhau lại dùng bữa tiệc kỷ niệm đễ nhớ tất cả mọi người đã chết trong gia đình. Các tín hữu cũng tụ tập lại, nhưng chung quanh ngai tòa trống của thánh Phêrô, người thân yêu nhất của họ trong Giáo hội sơ khai. Như vậy lễ kính tòa thánh Phêrô đã có một nguồn gốc từ một lễ tưởng nhớ người chết trong phong tục Rôma.

Vào thời kỳ đầu, kitô hữu đã lấy một số tập tục của người Rôma trong việc chôn cất người chết. Ngày một người qua đi (dies obitus), cũng là ngày chôn cất họ (dies depositionis), và người kitô hữu đã chôn cất người chết xuống lòng đất thay vì hỏa táng. Người ta không thấy dấu tích nào nói về việc an táng kitô hữu theo cách hỏa thiêu trong thời kỳ đầu này. Lý do là vì niềm tin vào tín điều xác loài ngưới sống lại (xc Bộ tín lý đức tin, Văn kiện về việc hỏa thiêu xác chết, ban hành ngày 8-5-1963, Sách Nghi thức an táng, 1969, số 15), và có lẽ cũng vì lý do kitô giáo vào thời kỳ đầu còn theo tập tục của Do thái giáo vẫn theo cách chôn cất.

Người ngoại giáo vào thời kỳ này tin rằng linh hồn người chết còn sống phảng phất bên phần mộ. Và một phần nào đó, niềm tin này còn giữ lại nơi các kitô hữu vào thời kỳ đầu, nhưng dần dần đã được thanh tẩy và kitô hóa. Một số tập tục ngoại giáo khác cũng còn được giữ lại, tuy dù đã được thanh tẩy và mang ý nghĩa kitô giáo. Như sau khi an táng người chết, thì mọi người tụ tập ở một phòng gần bên để dùng một bữa tiệc an táng (tiếng latinh gọi là refrigerium), gọi là bữa tiệc gửi đồ ăn cho người chết dùng và thông hiệp với họ. Tín hữu đầu tiên còn giữ lại tập tục này, tuy nhiên đã mang nội dung kitô giáo, không phải vì tin người chết còn ở lại bên cạnh người sống, cũng không có ý gửi đồ ăn cho người chết, hoặc hiệp thông vào bữa tiệc an táng, và cũng chưa có việc cử hành thánh thể trong bữa tiệc này. Chỉ vào thế kỷ thứ II, thì mới có việc cử hành thánh thể trên các mộ phần, vào thế kỷ thứ IV thì tập tục này rất rõ rệt trong nhiều chứng tích văn bản. Ý nghĩa của bữa tiệc trên mộ phần là hiệp thông với người chết trong cùng sự sống với Chúa Kitô, và để cầu nguyện cho họ; vì thế người ta thường rước lễ trong buổi cử hành này. Về sau ý nghĩa cử hành thánh thể để cầu nguyện cho người chết được nhấn mạnh hơn, thì việc rước lễ không còn được lưu tâm nữa, và trong thánh lễ này, chỉ có linh mục rước lễ mà thôi. Ngoài việc cử hành thánh thể trên phần mộ vào dịp giỗ và kỷ niệm, cũng còn có những cuộc tập họp bên phần mộ của người quá cố để hát thánh vịnh, tưởng nhớ và cầu nguyện cho người quá cố.

Trong thời kỳ này, chúng ta đã thấy sự khác biệt hoàn toàn giữa bữa tiệc bên phần mộ của người ngoại giáo và bữa tiệc bên phần mộ của người kitô hữu. Trong bữa tiệc bên phần mộ của người kitô hữu, có bữa tiệc, có việc cử hành thánh thể, có sự tham dự của cả cộng đoàn địa phương, có cả người nghèo khó được vào tham dự, và sự hiện diện của người quá cố không có tính cách thực sự, mà chỉ qua các biểu hiệu tượng trưng. Việc cử hành bữa tiệc bên phần mộ này được thực hiện vào các dịp tuần ba, tuần bảy, tuần ba mươi sau khi tín hữu qua đời, hoặc vào ngày giỗ của người quá cố. Người ta gọi là ngày tưởng nhớ (memoria). Ðây là một trong những trường hợp thích nghi phụng vụ rất rõ rệt. Tuy nhiên về sau, khi có nhiều lạm dụng quá đà, nên tập tục dùng bữa tiệc an táng bên phần mộ bị loại bỏ hoàn toàn.

Từ việc tưởng nhớ người quá cố trong sinh hoạt bình thường này, có việc tiến tới việc kính nhớ các vị tử đạo anh hùng. Ðiều này được bàn tới trong việc tôn kính các thánh trong phụng vụ kitô giáo, mà nguồn gốc mang tính cách phức tạp hơn.

Ði từ việc tưởng nhớ người quá cố với một số tập tục bình dân đã mang ý nghĩa kitô giáo, phụng vụ kitô giáo đã dần dần tổ chức nghi thức cử hành dịp an táng và tưởng nhớ người chết.

Như trên chúng ta thấy có cuộc họp mặt cử hành bữa tiệc bên phần mộ với việc cử hành thánh thể, hoặc hát thánh vịnh, thánh ca cầu nguyện. Trong những giai đoạn kế tiếp, các nghi lễ cho việc an táng được thành hình và có một cơ cấu rõ ràng dần dần. Vào thế kỷ thứ VII, thì có chứng tích đầy đủ về việc cử hành phụng vụ cho người chết. Ðó là Sách Nghi thức thứ 49 (Ordo 49, trong M. Andrieu, Les Ordines Romani du haut Moyen-âge, IV, Louvain, 1956, pp. 523-530), ghi lại việc cử hành nghi thức an táng cho người chết tại Rôma.

Nghi thức 49 mô tả như sau : khi tín hữu gần chết, thì kiệu Mình thánh Chúa như của ăn đàng cho họ, vì thánh thể là bảo chứng của việc sống lại. Rồi đọc bài tường thuật cuộc thương khó Chúa Giêsu Kitô. Sau đó hát thánh ca Xin các thánh đến trợ giúp (Subvenite sancti Dei), với thánh vịnh 113, là thánh vịnh vượt qua, nói lên niềm hy vọng của dân được vào đất hứa, và ca tiền xướng xin ca đoàn các thiên thần hãy tiếp nhận bạn (Chorus angelorum te suscipiant). Sau khi người tín hữu tắt thở, thì người ta lo việc tắm rửa, tẩm liệm xác người chết và đặt trên một tấm bục. Sau đó hát thánh vịnh 96 : Thiên Chúa hiển trị, và đưa thi hài người chết tới nhà thờ. Tại cửa nhà thờ, không có viêc cử hành thánh thể, nhưng là buổi hát các thánh vịnh sau đây : thánh vịnh thứ 41, biểu lộ lòng mong mỏi được ra gặp Thiên Chúa; thánh vịnh thứ 4 : nói lên niềm tín thác vào sự phù trợ của Thiên Chúa; thánh vịnh thứ 14 : nói lên lòng khao khát được ở trong nhà Chúa; thánh vịnh 50 : kêu cầu lòng nhân từ của Thiên Chúa; thánh vịnh 24 : nói tới việc nâng tâm hồn lên với Chúa. Vào lúc này Nghi thức 49 có ghi một điểm chữ đỏ như sau : Xin mọi người hãy tiếp tục cầu nguyện không ngừng cho linh hồn này cho tới khi chôn cất xác của họ. Hãy hát thánh vịnh hoặc các đáp ca.

Sau khi đã cử hành các nghi thức tại nhà thờ, thì cộng đoàn rước quan tài ra nghĩa địa, trong khi đó hát thánh vịnh 117, đây cũng là thánh vịnh vượt qua, với ca tiền xướng Xin hãy mở cửa công chính cho tôi.

Nhìn vào nghi thức vào thế kỷ thứ 7, chúng ta nhận ra tính cách vượt qua rất rõ ràng : hai thánh vịnh 113 và 117 là thánh vịnh vượt qua, được hát ở đầu và cuối nghi thức an táng. Ðây cũng là hai thánh vịnh được hát trong bữa tiệc vượt qua của người Do thái, điều này cho thấy cái nhìn thần học vào thế kỷ thứ 7, về việc người tín hữu chết đi, được coi như là một cuộc vượt qua, đi từ cõi đời này vào tới cõi vinh quang của Chúa Phục sinh. Mở đầu cuộc hành trình vượt qua này, họ lãnh nhận thánh thể là của ăn đàng cho hành trình về Nhà Cha. Họ được cộng đoàn tín hữu anh chi em cầu xin lòng từ bi thương xót và ơn phù trợ chở che. Họ được cộng đoàn các thiên thần và các thánh đón chờ mở cửa cho. Như vậy ý nghĩa vượt qua của nghi thức an táng vào thế kỷ thứ 7 thật rõ ràng, và cũng từ đó, cái nhìn thần học về cái chết của người tín hữu như một cuộc vượt qua theo gương Chúa Kitô phục sinh, trở nên thật rõ ràng.

Sang tới thế kỷ thứ VIII nghi thức an táng đã có một số thay đổi, được đem vào từ vùng Pháp và Rôma, và các vùng khác của Âu châu. Vì thế nghi thức mang tính cách hỗn tạp và có thể chia ra thành hai phần : (1) phần phó linh hồn và (2) phần cầu nguyện sau khi chết. Nghi thức này được ghi lại trong nhiều Sách cử hành thánh thể và bí tích (Sacramentaria) vào thế kỷ thứ VIII tại vùng Rôma, và Pháp.

Nghi thức vào thế kỷ này có những chiều hướng thần học mục vụ sau đây :

- cầu nguyện lòng từ bi của Thiên Chúa cho người chết. Tư đy khía cạnh tội lỗi được nói tới nhiều hơn. Việc tắm rửa và tẩm liệm thân xác người chết, có ý nghĩa biểu thị cho việc thanh tẩy linh hồn khỏi tội.

- các bản văn nói tới tính cách nguy hiểm của cuộc hành trình về nhà Cha : trong đó nhiều bóng tối nguy hiểm của sự chết, sự dữ, của satan. Nên tín hữu đầy tâm tình lo sợ hoang mang trước cái chết và cảnh hỏa ngục đầy lửa thiêu đốt. Người tín hữu như không có gì bảo đảm cho sự cứu rỗi của người quá cố. Vì thế người còn sống phải cầu nguyện nhiều cho phần rỗi của người chết, phải cử hành thánh lễ để giúp giải thoát họ khỏi cảnh chết chóc linh hồn. Cái chết như phép rửa thứ hai để xua trừ ma quỷ và đem tín hữu vào trong cộng đồng các thánh.

Nghi thức an táng vào năm 1614, tức là sau Công đồng chung Triđentino: nghi thức này được dùng trong Giáo hội cho tới năm 1969 khi ban hành Sách nghi thức an táng mới. Theo nghi thức 1614, cha sở và giáo sĩ tới nhà ngưới quá cố, cất xác và rước tới nhà thờ, trong khi đó hát thánh vịnh. Tại nhà thờ , cộng đoàn hát Phụng vụ giờ kinh cầu hồn (Officium defunctorum), sau đó cử hành thánh lễ, trừ khi việc an táng cử hành vào ban chiều, vì thời xưa không được cử hành thánh lễ ban chiều. Sau thánh lễ có nghi lễ xá giải (Absolutio) gồm các kinh và thánh ca để xin ơn tha tội cho người quá cố. Tiếp đến là việc kiệu quan tài ra nghĩa địa, hát thánh ca Benedictus, rồi linh mục đọc một số kinh nguyện và kết thức nghi thức.

Nghi thức an táng vào năm 1614, có tính cách hỗn tạp trong quan niệm thần học về sự chết và việc soạn thảo bản văn. Nghi thức vừa lấy các bản văn của nghi thức vào thế kỷ thứ 7; vừa lấy một số bản văn của Nghi thức thế kỷ thứ 8, nhưng đã giải thích một cách khác, cho hợp với suy tư thần học và mục vụ của thế kỷ 17 và 18. Ðàng khác Sách Nghi thức cũng lấy những bản văn diễn tả tính cách sợ hãi, kinh hoàng trước cái chết và cuộc sống mai hậu, như Ðáp ca : Lạy Chúa xin giải thoát con khõi án phạt hỏa ngục (Libera me, Domine, de poenis inferni) , được đưa vào Nghi thức ở Rôma vào thế kỷ thứ 10; rồi ca tiếp liên Dies irae (Ngày đó là ngày giân dữ) , được sáng tác vào thế kỷ thứ 12 hay 13 tại Italia, phản ảnh tâm trạng của thời này trước cái chết của tín hữu, trước cảnh phán xét riêng và phán xét chung; hoặc ca dâng lễ vật : Domine Iesu Christe, được sáng tác vào thế kỷ thứ 10, nói lên nỗi kinh hoàng thẳm sâu do sự chết và cảnh phán xét gây ra.

Như vậy Nghi thức 1614 mang nặng quan điểm thần học của thể kỷ 17 và 18, mà suy tư thần học và việc giảng dạy nhấn mạnh về việc chết, cảnh phán xét đáng kinh sợ, vì thế phải dọn mình chết lành. Trong Nghi thức này, Giáo hội chỉ hướng về việc cầu nguyện người quá cố và cầu nguyện cho họ.

Sau cùng vào năm 1969, Nghi thức an táng được ban hành sau khi được tu chính và soạn thảo theo chỉ thị của Công đồng Vaticanô II, để dùng thay thế cho Sách Nghi thức năm 1614. Chúng ta sẽ trình bày vào một dịp khác, một cách sâu rộng hơn, về nguồn gốc, nội dung thần học, mục vụ, các bản văn, kinh nguyện, nghi thức, biểu hiệu.

Kế luận

Cho tới đây, chúng ta đã nhận ra mối quan tâm lớn lao của Giáo hội với con cái mình trong giờ chêt, và cử hành nghi thức phụng vụ để tưởng nhớ tới họ và cầu nguyện cho họ. Phụng vụ đã thực hiện cụ thể mối quan tâm này qua các nghi lễ, các bản văn Kinh thánh, các lời kinh, các biểu hiệu, cử chỉ, rất dồi dào và ý nghĩa. Có sự gợi hứng căn bản từ Kinh thánh, từ truyền thống và thần học. Tuy nhiên cũng có những thích nghi phụng vụ trong phạm vi này. Qua phụng vụ, Giáo hội giáo huấn chúng ta về niềm tin vào sự sống lại, về tình hiệp thông giữa các phần tử trong Giáo hội trần thế, thanh luyện và chiến thắng. Nghi thức phụng vụ cũng giúp chúng ta hiểu về các thực tại cánh chung, sự chết, phán xét, thiên đàng, luyện ngục, và hỏa ngục. Nhưng luôn trong ánh sáng của mầu nhiệm vượt qua của Chúa Kitô. Niềm tin vượt qua này sẽ giúp tín tín hữu đón nhận cái chết với niềm tin tưởng và phú thác, nhưng cũng thanh luyện mình qua đau khổ, qua cuộc sống, như Chúa Kitô đã qua đau khỗ, thánh giá, sự chết để đến vinh quang phục sinh. Niềm tin vượt qua này mang lại an ủi và giúp các người còn sống trong gia đình, trong cộng đoàn xứ đạo, đón nhận cái chết của người thân yêu trong thái độ can đảm và thanh luyện cuộc sống của mình.

Trong tháng tưởng nhớ các tín hữu đã qua đời, trong khi tha thiết cầu nguyện cho các anh chị em đã qua đời được thanh luyện trọn vẹn chóng được vào tham dự vinh quang của Chúa Kitô phục sinh, chúng ta đào sâu niềm tin vượt qua của chúng ta trong cuộc sống hằng ngày, để một ngày kia chúng ta cũng được tham dự vào vinh quang muôn đời cửa Chúa phục sinh với họ.

Rôma, lề các Thánh Nam Nữ 1-11-1998
Lm. Phanxicô Borgia Trần-Văn-Khả