Giáng Sinh và Hang Ðá

Sư huynh Trần Công Lao

Hằng năm, cứ vào ngày 25 tháng chạp dương-lich, toàn thể nhân-loại, đặc-biệt là hơn một tỷ tín-hữu công giáo khắp toàn cầu, long-trọng đón mừng một biến-cố lịch-sử lớn-lao vô tiền khoán hậu: ngày ‘Ngôi Hai xuống thế làm người’ [Jn 1, 14] đã sinh ra tại Bê-lem và được đặt nằm trong ‘’máng cỏ’’

Lễ Giáng-Sinh

Lễ Giáng-sinh là một trong những lễ cổ nhất của đạo công-giáo, đã được cử-hành lần đầu tiên vào năm 336 tại Roma. Hình như ở Phi châu cũng đã bắt đầu mừng lễ này vào thời-kỳ đó, vì hai giáo-hội Bắc-Phi và La-mã luôn có sự liên-lạc mật-thiết với nhau. Sự-kiện Ngôi hai giáng trần, sinh ra ở Bê-lem trong cảnh khó-nghèo, được Ðức Maria đặt nằm trong "máng cỏ’’, có thiên-thần loan báo cho các mục-đồng đến thờ lạy, đều được phúc-âm mô-tả đầy đủ [Cf. Lc 2,1-20], nhưng ngày tháng nào thì trong cả 4 Phúc-âm, không một nơi nào đề-cập, chỉ cho biết cách mông-lung là dưới thời hoàng đế Xê-sa, khi Xy-rin làm tổng trấn xứ Xyria [Cf.Lc 1-3] vì thế, lúc ban đầu, lễ Giáng-sinh khi thì cử-hành vào tháng Giêng, lúc lại được mừng vào tháng Năm dương-lịch. 

Về sau, theo lời đề nghị của thánh Cyrille, Ðức Giáo Hoàng Juluis đệ nhất đã dạy các nhà thần-học nghiên-cứu và thảo-luận vấn-đề, nên năm 350, nhật-kỳ mừng lễ đã được công-khai ấn-định vào ngày 25 tháng 12 mỗi năm, ngày mà người ngoại-giáo La-mã mừng lễ thần Mặt trời tái-sinh [Natalis Solis invicti], vị thần chiến-thắng bóng tối, theo họ tin-tưởng. Vấn-đề ánh-sáng, đối với Giáo-hội sơ-khai và thời các thánh giáo-phụ rất được chú trọng "ChúaKitô là Mặt Trời công-chính’’ [Mal.3,20]. Chính Chúa Giê-su cũng đã phán; "ta là ánh-sáng thế-gian" [Jn 8,12]. Chính do sự tương-hợpđó mà Hội thánh không ngần-ngại chọn 25 tháng chạp để mừng lễ Chúa Giáng-Sinh, thay cho ngày lễ của người dân ngoại.

Máng Cỏ

Cái đập mạnh vào thị-giác tín-hữu trong mùa Giáng-sinh chính là ‘Hang Ðá’. Ở các thánh-đường và các gia-đình, tùy từng địa-phương và tùy năng-khiếu, người ta trưng dọn nhiều kiểu hang đá. Nhiều cái làm thật công-phu, trình-bày rất ngoạn mục; Giữa cánh đồng mờ sương với núi non chập-chùng, trong một hang đá, có Chúa Hài-nhi bé-bỏng nằm giữa "máng cỏ", đôi tay tay giăng ra như đón tiếp, như muốn ôm ấp những ai đến với ngài. Hai bên, Ðức mẹ và thánh Giu-se nghiêm-trang quỳ chầu với đôi bò lừa hiền-hoà nằm gác mõm vào máng cỏ, như đang dùng sức mình để hà hơi cho ấm Hài nhi. Lại có vài chú mục-đồng, người ôm chiên, kẻ thổi sáo đang quỳ hoặc đứng. Tất cả cảnh-tượng đó được diễn ra dưới bầu trời trăng sao mờ ảo... Nhưng thật ra, Bê-lem ngày đó có những gì ? Phúc-âm thánh Luca chép : ‘ Xê-sa đại-đế truyền khai dân số... Giu-se thuộc dòng dõi Ða-vít, nên đã bỏ Na-gia-rét- xứ Ga-li-lê lên thành Ða-vít, tức là Bê-lem, hầu khai tên mình, và Maria, bạn mình đang có thai. Khi hai Ðấng đến đó, Maria đã đến ngày sinh nở. Người sinh con trai đầu lòng, lấy khăn bọc con, đặt trong máng cỏ, vì hai Ðấng ấy không có nơi trọ’[Lc 2,1-7]. 

Qua đoạn nầy, ta thấy phúc-âm chỉ nói đến ‘Máng Cỏ’, chứ không đề-cập gì đến ‘Hang Ðá’. Máng cỏ là nơi người chăn nuôi làm để chứa rơm cỏ cho bò chiên ăn. Có lẽ sẽ có người tò-mò muốn biết ‘máng cỏ’ thời đó được làm bằng vật-liệu-gì. Nếu căn-cứ theo lời phát-Biểu của thánh Giê-rôm, thì máng cỏ tại Bê-lem được làm bằng đất sét. Vì vào năm 420, khi thấy các giáo-hữu không tôn-trọng tình-trạng nguyên-thủy các nơi thánh, ngày đã than phiền ; ‘Tôi ao ước nhìn thấy máng ăn, nơi chúa đã sinh hạ. Nhưng than ôi, vì lòng tôn-kính Ðức Kitô, người ta đã vất bỏ máng ăn bằng đất sét và thay thế vào một máng ăn bằng bạc. Ðối với tôi, máng ăn mà người ta đã vất bỏ, nó quý giá biết ngần nào’’! [G. Morin, Anecdocta Maredsolana, in-8, Maredsokì, 1897,3, par 2, p.393]. Tuy-nhiên, hiện nay ở Rô-ma, trong đại-vương-cung thánh-đường Ðức Bà Cả, tại bàn thờ giáo-hoàng, có 5 miếng gỗ để trong hòm pha-lê mà người ta tin là Máng cỏ Bê-lem, hay ít ra, nó cũng là một phần của máng cỏ ấy.

Hang Ðá

Vào những thế-kỷ đầu tiên của Giáo-hội, trừ thời-kỳ bị bách-hại hoặc bị Hồi-giáo chiếm đóng, hang đá Bê-lem, nơi được xem là Chúa sinh ra, đã có những cuộc hành-hương kính viếng. Sau đó, trong các xứ công-giáo, người ta đã làm những ‘hang đá Bê-lem’, (như bây giờ ta làm hang đá Lộ-đức vậy), tại các nhà thờ và tư-gia. Vào thế-kỷ 15, ở Ý-đại-lợi, đã bắt đầu xuất-hiện những "Hang Ðá Thường-trực’’ trong một vài thánh-đường, tức là khi hang đá đã làm xong thì để luôn cho giáo-hữu kính viếng hoặc du-khách đến xem. Chẳng hạn như hang đá ở nhà thờ thánh Cót-ma và Ðaminanaô hiện nay tại Roma. Còn "Hang Ðá Nhất Thời’’(chỉ dựng lên trong dịp giáng-sinh) lần lần phát-triển rộng-rãi và những truyền-thống đã được triển-khai trong việc sản-xuất các nhân-vật "máng cỏ" bằng gỗ, đất sét, thạch-cao, bột mì, sáp... Tại Pháp, những hình đất (santons) ở Provence rất nổi tiếng. 

Song-song với việc sùng kính Sinh-nhật Chúa Ki-tô, những hình-thức trình-bày nảy sinh, những cách cử-hành phục-vụ trong các nhà thờ ở giữa thánh-đường, đúng theo tư-tưởng bàn thờ là máng cỏ đích-thực. Vì chính trên bàn thờ mà Ðức Ki-tô sẽ hiện diện trong hình bánh rượu hiến-tế. Giáng-sinh chỉ mang ý-nghĩa trong viễn-cảnh mầu-nhiệm Phục-sinh. Chính trong tinh-thần ấy mà vào năm 1223, thánh phan-xi-cô khó-khăn đã cử-hành một lễ Giáng-sinh lịch-sử. Mấy ngày trước lễ, thánh-nhân đã nhờ người quý-phái tên là Gioan, chủ-nhân lâu-đài Greccia ở vùng Umbria, thuộc miền Trung nước Ý, dọn một hang đá, có bò lừa sống-động. Người muốn ông ta trình-bày khung-cảnh sao cho thật giống những gì đã xảy ra tại Bê-lem năm xưa. Thế rồi khi màn đêm buông xuống, thánh- nhân qui- tụ các thầy trong dòng và đoàn lũ dân chúng tại ở thung-lũng Greccia. Trong ánh-sáng tưng-bừng của hàng ngàn vạn cây nến cháy lung-linh mọi người hiệp nhau trong niền tin, sốt-sắng đọc kinh cầu nguyện và say-sưa hát mừng Ðấng Cứu-thế giáng-sinh. Ðến nửa đêm, Người cử-hành Thánh lễ trên Máng cỏ, hát Phúc-âm và giảng về Hài-nhi Thiên-chuá, khiến mọi người vô cùng xúc động. Sau lễ giáng-sinh đầy kỷ-niệm đó, hàng năm khi mùa giáng-sinh về, khắp nơi trong nước Ý, dân chúng bắt chước sáng-kiến thánh-nhân, dọn ‘’Hang Ðᒒ trong nhà thờ và các tư gia. Chưng-bày tượng Ba Ðấng; mục-đồng với bầy chiên lại thêm hai con bò lừa để diễn-tả lời sách tiên-tri ‘’Con bò biết người tậu nó, con lừa biết chuồng chủ nuôi’’ (1s.1,3).Tập-tục tốt đẹp nầy, từ đó, lan ra khắp nơi và cũng do việc cử-hành mang đầy ý-nghĩa ấy mà truyền-thống cho rằng đó chính là ‘’máng cỏ đầu tiên’’.