Niềm Vui Giáng Sinh

Lm Nguyễn Hồng Giáo OFM

Lời chúc mừng Giáng sinh của các nước trên thế giới thường gắn liền với những tiếng vui, vui vẻ,vui tươi. Khi một em bé ra đời, cha mẹ, thân nhân và tất cả họ hàng của em đều vui mừng và niềm vui đó còn lan đến bạn bè và những người quen biết của cha mẹ em nữa. Trường hợp Hài Nhi Bê-lem cũng thế. Nhưng niềm vui ở đây thật đặc biệt và được biểu lộ một cách khác thường.

Những người đầu tiên hưởng niềm vui Giáng sinh.

Trước hết là Thánh Giuse và Ðức Mẹ Maria. Khi đến truyền tin cho Ðức Trinh nữ, câu nói đầu tiên của sứ thần là: "Mừng vui lên, hởi Ðấng đầy ân sủng". (Một bản Kinh thánh sau này đã dịch lời chào này thành: Kính mừng Maria, (Bà) đầy ơn phúc). Lúc đến thăm bà chị họ I-sa-ve, Mẹ Maria đã cất tiếng ngợi khen Chúa: "Linh hồn tôi ngợi khen Ðức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa Ðấng cứu độ tôi". Niềm vui của Ðức Mẹ là niềm vui cứu độ, cũng như lời chào của sứ thần không phải là một lời chào thông thường mà là dư âm của những lời loan báo ơn cứu độ cho Giêrusalem trong Cựu ước.

Những người tiếp theo được hưởng niềm vui cứu độ là gia đình ông Da-ca-ri-a và bà I-sa-ve. Chính Ðức Giêsu là niềm vui cứu độ mà Ðức Mẹ mang tới cho gia đình bà con này. Nên bà I-sa-ve đã thốt lên: "Bởi đâu tôi được phúc này là Thân mẫu của Chúa tôi đến với tôi như vậy? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng tôi đã nhảy lên vui sướng?". Gioan Tẩy giả đã nhận ra Ðấng cứu độ ngay từ khi còn chưa sinh ra, và niềm vui do cuộc gặp gỡ hi hữu này đã chiếm đoạt trọn vẹn con người ông đến độ sau này ông đã rút lui vào sa mạc như thể không còn tha thiết với vui thú nào của trần gian nữa. Mẹ vui, con vui, cha cũng không thể khác hơn. Ông Da-ca-ri-a nhớ lại lời sứ thần nói với ông trong đền thờ cách đây mấy tháng: "Này ông Da-ca-ri-a, đừng sợ vì Thiên Chúa đã nhận lời ông: bà I-sa-ve vợ ông sẽ sinh cho ông một đứa con trai. Ông sẽ được vui mừng hớn hở, và nhiều người cũng sẽ được hân hoan...". Rồi ngay sau khi làm lễ cắt bì và đặt tên cho con, ông đã được đầy Thánh thần và cất tiếng nói tiên tri: "Chúc tụng Ðức Chúa là Thiên Chúa It-ra-en, đã viếng thăm và cứu chuộc dân Người..."

Nhóm người thứ ba đã được ơn nhận ra và hưởng niềm vui cứu độ là những người chăn chiên. Ngay trong đêm Giáng sinh, sứ thần Chúa đã đến với họ: "Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân. Hôm nay, một Ðấng Cứu Ðộ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Ða-vit". Họ liền hối hả ra đi, không phải vì tò mò, nhưng vì vui mừng trước ơn Chúa thương ban cho mình. Khi trở về với cuộc sống hằng ngày, các mục đồng đã chia sẻ lại với người khác những điều họ đã thấy và ai ai cũng ngạc nhiên.

Phúc Âm còn kể tới hai nhóm người đặc biệt khác là các nhà đạo sĩ phương Ðông và hai cụ già Si-mê-on và An-na, những người đại diện cho Dân Cựu ước, ngày đêm những mong chờ "niềm an ủi của It-ra-en".

Niềm vui của riêng người nghèo.

Thiên Chúa đến cứu độ mọi người, nhưng không phải ai cũng sẵn sàng đón nhận Người, ai cũng vui mừng "vì ơn cứu độ". Những người mà chúng ta vừa nói tới trên đây, họ rất khác nhau về điều kiện sống, trình độ văn hóa và địa vị xã hội, nhưng tất cả đều là những người nghèo, theo quan niệm của Kinh thánh. "Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó vì Nước Trời là của anh em"(Lc 6,20). Ý nghĩa thứ nhất của Nghèo khó là một ý nghĩa cụ thể, vật chất: đó là những người đói khát, những người vất vả lầm than, người thấp cổ bé miệng, bị áp bức bóc lột, bị ruồng bỏ khinh chê, bị tước đoạt quyền lợi, như góa phụ, trẻ em và ngoại kiều chẳng hạn. Không phải nghèo như thế đương nhiên là được chúc phúc, song vì tình cảnh đó làm cho người ta biết khao khát và chờ đợi sự giải thoát nơi Thiên Chúa. Vì thế người nghèo theo Kinh thánh, còn là người đạo đức, công chính, tức là những người trung thành với lề luật của Chúa, hằng khao khát cho thánh ý Chúa được thể hiện. Theo nghĩa đó thì không những người chăn chiên là nghèo, cha mẹ Ðức Giêsu là nghèo, hai cụ Si-mê-on và An-na là nghèo, mà ngay cả gia đình ông Da-ca-ri-a (thuộc giai cấp lãnh đạo tôn giáo) hay các nhà đạo sĩ phương Ðông cũng nghèo. Thái độ của người nghèo tương phản với thái độ của hạng kiêu căng, áp bức, cậy thế, cậy quyền, và vì giàu có và quyền thế nên khinh mạn lề luật Chúa. Trong dịp Chúa Cứu thế ra đời, những người này đã bắt đầu xuất đầu, lộ diện: tiêu biểu là vua Hê-rô-đê và những kẻ vây quanh ông ta. Họ không vui mừng, trái lại đã đâm ra lo sợ, hoảng hốt và vì đó, đã rơi vào tội ác.

Niềm Vui và Sợ Hãi.

Mỗi lần đến với con người để trao một sứ điệp, một nhiệm vụ nhân danh Thiên Chúa, sứ thần thường bắt đầu bằng lời động viên: "Ðừng sợ!" Chẳng hạn khi "truyền tin" cho ông Da-ca-ri-a, Ðức Maria và các mục đồng. Lời kêu gọi "đừng sợ" thường được kèm theo lời hứa: "Vì có Chúa ở với ngươi". Khi truyền cho ông Mô-sê đi giải phóng dân It-ra-en đang làm nô lệ ở Ai-cập, Thiên Chúa phán: "Ðừng sợ. Ta sẽ ở với ngươi." Với ông Giê-rê-mi-a hay ông Ghê-đê-on v.v., và sau này với Ðức Maria cũng thế. Nhưng kể từ khi Thiên Chúa làm người, thì Người không chỉ ở với con người trong một số trường hợp đặc biệt mà thôi, nhưng làthường xuyên và vĩnh viễn. Ðức Giêsu là Em-ma-nu-en, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.

Dường như sợ hãi gắn liền với cuộc sống của con người ở trần gian. Chúng ta sợ đủ thứ: sợ đói khát, bệnh tật, rủi ro, hoạn nạn, sợ thất nghiệp, sợ bị phản bội, bị phụ tình...Và cuối cùng là sợ chết. Cuộc sống không bao giờ thật sự là an toàn vì tự nó là mong manh, giới hạn mà ta thì muốn một hạnh phúc không bao giờ tàn phai. Không những tai họa bên ngoài luôn luôn rình rập ta, mà ngay trong thâm tâm, ta cũng nghiệm thấy mình yếu đuối, mỏng dòn, dễ dàng xuôi theo cái xấu nghịch với khát vọng sâu xa của ta. Từ tình cảnh đó, nếu ta biết đặt tất cả lòng tin cậy nơi Chúa, như những người nghèo, thì ta sẽ không còn sợ hãi, nhưng ngay từ bây giờ đã bắt đầu được hưởng niềm vui cứu độ của Chúa. Thánh Gioan viết:"Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của mình cho thế gian" (Ga 3,16). Xác tín đó xua tan tất cả mọi sự sợ hãi của ta.

Người Kitô Hữu và Niềm Vui

Vậy có thể nói niềm vui là di sản của dân Kitô giáo. Một người Kitô hữu mà sống bi quan chán chường, thất vọng buông xuôi, ấy là dấu hiệu có cái gì đó không ổn. Phải chăng đó là một điều mâu thuẩn? Niềm vui là dấu hiệu của bình an nội tâm, của sự hài lòng, của tự tín, là dấu hiệu cho thấy rằng người ta đang cảm thấy được an toàn, được đón nhận, được yêu mến. Tóm lại, niềm vui là dấu hiệu của hạnh phúc. Chúng tôi muốn nói tới một tâm trạng an vui thường xuyên và sâu xa, niềm an vui không loại trừ gian nan, thử thách và đau khổ.

Thế thì còn ai hơn người Kitô hữu? Họ biết mình được thương yêu, được đón nhận và tha thứ. Họ biết mình đang tiến về đâu. Cái gì có thể làm cho họ sợ hãi? Gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, chết chóc chăng? Hay là ma quỉ hay những sức mạnh vô hình nào chăng? Hay là tội lỗi của ta chăng? Thánh Phaolô trả lời khẳng khái: Không! Tôi không sợ vì không có gì tách tôi ra khỏi tình yêu của Ðức Kitô được, trái lại trong tất cả những thử thách ấy, tôi toàn thắng nhờ Ðấng đã yêu mến tôi (x.Rm 8,35-38).

Vậy niềm vui của chúng ta trong lễ Giáng sinh không chỉ là niềm vui do những nghi lễ sốt sắng, những buổi thánh ca du dương bay bổng, những hang đá xinh đẹp, gợi cảm hay những món quà tình nghĩa và những bữa ăn gia đình ấm cúng. Ðiều đó tốt, nhưng chưa đủ. Càng không phải là niềm vui nồng nặc, nhầy nhụa của rượu, của thịt và những lạc thú nhố nhăng, nhưng là niềm vui sâu xa của những "người nghèo" xác tín rằng mình được quí chuộng, yêu thương và cứu độ.

(Trích ns Người Tín Hữu online)