TẢN MẠN MÙA GIÁNG SINH

Lm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô

Ðã tới Chủ nhật III Mùa Vọng rồi! Tôi suýt buột miệng "mau quá" nhưng vừa kịp kìm giữ lại. Với tuổi càng ngày càng cao, người ta thấy thời gian bay đi quá nhanh, nhất là khi vẫn còn nhiều việc phải làm hay muốn làm. Sáng nay Phụng Vụ mời mọi người hãy vui lên vì Chúa đã đến gần. Ừ, tại sao lại "mau quá" khi ta biết mình vẫn mong chờ Chúa đến kia mà? Biết thế nhưng vẫn cứ muốn níu kéo thời gian lại. 

Vài tuần qua, tôi bận hơn thuờng. Nay công việc vừa xong. Sáng nay cảm thấy thư thái và muốn thưởng cho mình ít phút thư giãn. Tôi nằm đọc báo và nghe băng Nhạc Giáng sinh hòa tấu của một linh mục bạn mới tặng cho vài hôm trước. Thấm thía biết bao! Vào tuổi của tôi, phải là nhạc của những bài loại này mới làm rung động tâm hồn: Cao cung lên. Hội nhạc thiên quốc. Ðêm No-en. Bêlem ơi. Hang Bêlem. Ngay cả Tiếng muôn Thiên thần (nhạc ngoại quốc, lời Việt). Nhạc êm ái, thiết tha, trầm bổng xoáy sâu vào lòng. Những tiếng nhạc này, tôi đã nghe hầu như thuộc lòng từ hàng chục năm trước đây, có bài từ thời thơ ấu. Bây giờ nghe lại thì như sống lại hàng bao Mùa No-en đã qua.

Ðèn Sao.

Tôi khó tưởng tượng được một lễ Giáng Sinh mà lại không có đèn ngôi sao. Ngày nhỏ, mỗi lần sắp tới ngày lễ, tôi ngồi lân la hằng giờ bên anh tôi, hoặc chú tôi, xem họ chẻ tre, nấu hồ, cắt giấy xanh đỏ làm đèn cho nhà thờ. Rồi tôi cũng tập tễnh làm một chiếc đèn ngôi sao cỏn con, tối đến thắp đi loanh quoanh trong sân nhà, ngâm nga vài bài ca Giáng sinh. Bây giờ "văn minh", người ta làm ra nhũng chiếc đèn đủ loại, đủ cỡ và đẹp lắm, chỉ bỏ tiền ra là bao nhiêu cũng có, tha hồ mà treo trong nhà ngoài cửa, nơi hang đá, trên tháp chuông..., không phải một hai cái mà từng chuỗi dây dài, không thắp bằng nến nhưng bằng điện an toàn, tiện lợi. Nhưng với tôi, chúng có vẻ "vô hồn", không như những chiếc đèn thô sơ thuở ấy. Làm đèn cũng như làm hang đá cho giáo họ là cả một "bầu không khí", một sự huy động chung cho cả xóm. Ai muốn tham gia, cứ "nhảy" vào. Có những công đoạn không cần khéo tay cũng làm được. Con nít thì bu lại coi. Các bà, các cô tiếp tế nước nôi, bánh trái. Tất cả những thứ đó quyện vào trong chiếc đèn hay cái hang đá, khiến cho nó trở thành như sống động, thân thiết.

Tại sao Noen gắn liền với đèn sao? Dĩ nhiên là có câu chuyện về Ba Vua từ Phương Ðông nương theo ánh ngôi sao lạ đến thờ lạy Ðấng Cứu Thế mới ra đời tại Bêlem. Nhưng nhất là vì Ðức Kitô là ánh sáng thế gian. Phụng Vụ ngày thứ hai tuần III Mùa Vọng cho người tín hữu nghe lại sấm ngôn của Balaam:

"Tôi thấy nó, nhưng bây giờ chưa phải lúc,
tôi nhìn, nhưng chưa thấy nó kề bên ;
một vì sao xuất hiện từ Giacóp,
một vương trượng trỗi dậy từ Itraen ..." (Ds 24,17).

Ngôi sao phát xuất từ Giacóp mà Balaam nhìn thấy thấp thoáng từ xa, đó chính là Ðức Giêsu Kitô. Thánh Gioan thật rõ ràng:

"Ngôi Lời là ánh sáng thật, 
ánh sáng đến thế gian, và soi chiếu mọi người" (Ga 1,9).


Hang Ðá.

Noen mà thiếu đèn ngôi sao thì thật là buồn, nhưng nếu không có hang đá, còn buồn hơn nữa. Cái cảnh Chúa sinh ra nơi hang đá, trong đêm khuya, giữa mấy chú mục đồng và mấy con bò, lừa thở hơi cho ấm, - cái cảnh ấy thật sự gây xúc động và đánh mạnh vào trí tưởng tượng mọi người. Ngôi Hai Thiên Chúa bây giờ chỉ là một em bé đỏ hỏn bọc tã nằm trong máng cỏ. Sự "khôn ngoan" của thế gian trong ta vùng dậy thắc mắc, phản kháng. Ðấng Cứu Thế mà khỏi đầu như thế rồi sẽ làm được gì nên chuyện? Ừ, thì ít nhất cũng có thể "rán" nằm trong lòng mẹ thêm vài ba ngày nữa, đợi về đến quê quán rồi hẵng ra đời, có phải bớt rắc rối cho mình và cho bố mẹ hay không? 

Ngài là Thiên Chúa cơ mà! Một phép lạ nhỏ xíu thế mà sao Chúa không làm? Ta có thể đặt ra hàng ngàn hàng vạn những câu hỏi thắc mắc như thế cho Chúa, theo lý luận và lo-gic của ta, nhưng Chúa có lo-gic riêng của Ngài. Hang Ðá không phải là chuyện về một đôi vợ chồng lỡ đường lỡ sá, tình cờ và may mắn vớ được một chỗ để "tấp vào" trú đêm ... Hang Ðá đã báo trước Thập Giá. Nó là khỏi đầu cho sự vận hành của một thứ lo-gic sẽ còn gây vô số những thắc mắc và thất vọng cho bao nhiêu người trong suốt cuộc đời Chúa Cứu Thế, và sẽ đưa Ngài tới cuộc Tử Nạn là tột cùng của "phi lý" và "điên rồ" -(ấy là đối với con người chúng ta, không phải đối với Ngài). Chỉ mãi về sau, nhờ chiêm nghiệm lại mọi sự trong ánh sáng Phục Sinh, thánh Gioan mới nhận ra được cái lo-gic đã chi phối cuộc đời Chúa và công bố đó là lo-gic Tình Yêu nhập thể... 


Cũng như chuyện đèn sao, ngày nay hang đá đã được "cải tiến" vô cùng đa dạng. Có những cái rất "trí tuệ", -trí tuệ đến độ thu gọn lại trong vài nét biểu trưng sơ lược, đòi hỏi phải có kiến thức, phải suy nghĩ mới thấy được ý nghĩa. "Ðá" chẳng còn, mà "Hang" cũng biết mất. Không những chiên bò mà cả Thánh Giuse và Mẹ Maria cũng vắng mặt. Ðơn giản một Chúa Hài Ðồng nằm giang tay trên một nắm cỏ, trên một cuốn sách, trong lòng đôi bàn tay dâng cao, hay trong một chiếc nôi treo lơ lửng trước một cái phông nền vẽ một gốc cây... Sâu sắc nhưng rất trừu tượng. 

Một loại hang đá khác nhấn vào tính hội nhập văn hóa. Người làm hang đá tự hỏi: nếu Chúa giáng trần hôm nay trong môi trường thành phố Sài Gòn chẳng hạn, Ngài sẽ sinh ra ở khu ổ chuột nào, và ai sẽ là những người nghèo đầu tiên đến với Ngài? Thời còn chiến tranh, mấy thầy sinh viên Phan Sinh chúng tôi ở chợ Cầu Muối làm một hang đá loại này: một cái vựa trái cây dựng lên tạm bợ với bốn cột tre, mái lợp tranh, bên góc có cái chõng tre trên để mấy trái dưa hấu và mớ khoai lang, chính giữa lều là Chúa Hài Ðồng nằm giữa mớ rơm, Ðức Mẹ và Thánh Giuse ăn mặc đồ bà-ba, còn thay cho mục đồng là đứa bé nghèo sống bằng nghề "mót" trái cây, vốn có nhiều ở chợ Cầu Muối thời ấy. Một cái hang đá rất ý nghĩa, các thầy hài lòng, nhưng bà con thì không; giải thích cách mấy, họ vẫn lắc đầu. Hồi ấy, ý tưởng hội nhập văn hóa còn quá mới mẻ. Song ngay cả hiện nay, một cái hang đá loại đó, chưa chắc gì được quần chúng chấp nhận. Có lẽ nó "hiện thực" quá, trần trụi quá đến mất cả vẻ "linh thiêng", và chắc không "nói gì" với tâm tình người tín hữu bình dân. Ðiểm tâm lý đó, người làm mục vụ nên lưu ý. Ðến như tôi mà vẫn dễ cảm xúc khi đứng trước một hang đá "cổ điển" hoặc cách tân đôi chút hơn là trước một hang đá trí tuệ. Ta đến với Chúa bằng tình cảm và ý chí hành động hơn là với lý trí suy luận.

Giáng Sinh, ngày lễ của Sự Sống.

Giáng Sinh là lễ tôn vinh sự sống con người vì chính Thiên Chúa đã sống kiếp người. Ngay trong thế giới loài vật, hình như có thể nói: một mầm sống xuất hiện luôn luôn là cái gì quý báu, được nâng niu, ấp ủ, được chở che, chăm chút với biết bao trìu mến, -trừ một ít trường hợp nơi sinh vật cấp thấp, nó được phó mặc cho may rủi của thiên nhiên. Một con vật nuôi con, bao giờ cũng tỏ ra hung dữ hơn thường, nó có thể liều chết để bảo vệ con trước kẻ thù đe doạ. Một sự sống mới ra đời lúc nào cũng yếu ớt mong manh, nếu không được chăm sóc, nuôi duỡng như thế, nó sẽ không thể tồn tại.


Trong thế giới con người, những điều vốn là tự nhiên như trên còn được tăng lên gấp bội, nhờ có trí khôn và văn hóa. Nhưng ngày nay, cũng vì "văn minh" mà con người có thể làm những điều quái gỡ. Nhiều người coi con cái trong bào thai hay mới sinh ra như một mối đe doạ, một đối thủ tranh dành hạnh phúc của họ vì có con đương nhiên là phải hy sinh bao nhiêu là của cải vật chất, sức khoẻ, thời giờ, sự tự do, tự lập... Họ muốn đứa con không vì chính nó nhưng vì mình. Họ duy kỷ cách dễ sợ. Có một dạo phụ nữ Ý đi biểu tình đòi tự do phá thai với khẩu hiệu: "Bụng của chúng tôi thuộc về chúng tôi"! Người ta sẵn sàng giết chết đứa con trong bào thai dễ như bợn nếu không vừa ý, không đúng "tiêu chuẩn". 

Ngay ở Việt Nam ta, vốn có truyền thống coi trọng gia đình, nhưng nạn phá thai lại thuộc vào hàng nhất nhì thế giới. Mỗi năm có khoảng 300.000 trường hợp nạo, phá thai tuổi vị thành niên (Báo Tuổi Trẻ, ngày 11/11/2002). Riêng tại Tp Hồ Chí Minh, năm 2000 có 103.929 phụ nữ sinh con nhưng đồng thời lại có đến 132.000 người nạo, hút thai (Báo Tuổi Trẻ, ngày 22/7/2000). Nói cho cùng, một khi đã loại trừ Thiên Chúa và không tin linh hồn thiêng liêng bất tử, người ta coi con người tựu trung cũng chỉ là một sinh vật cao cấp mà thôi, huống hồ là một mầm sống còn trong bào thai, người ta có thể chọn lọc, loại trừ, thí nghiệm và sử dụng cho những mục đích khác, xét là hữu ích mà chẳng thấy phải thắc mắc gì. Nếu có vấn đề thì chỉ là vấn đề luật pháp chứ không phải vấn đề luân lý đạo đức. 

Giáng Sinh trong thế giới trần tục hóa.

Không biết từ lúc nào, Sài Gòn đã có thói quen tràn xuống đường trong đêm Noen như một lễ hội rất thanh bình và thân ái. Mọi người cùng đi, cùng vui, cùng mơ ước về một thế giới hoà bình và hữu nghị. Dù không tin, nhưng người ta vẫn hiểu được hay cảm nhận được phần nào sứ điệp của ngày lễ này. Nó khơi dây những gì là chân thiện trong lòng người. Xin đừng coi tập tục "diễu hành" hòa bình của người thành phố như một "rơi rớt" của một thời "biến chất". Thế nào là biến chất? Chúng ta thường phàn nàn về sự sa sút về đạo đức trong xã hội ngày nay. Ích kỷ, dối trá, độc ác, tham ô, thực dụng... Ðó mới là biến chất. Những gì nâng cao con người lên với chân, thiện, mỹ đều đáng trân trọng. Tạo ra một sinh hoạt cộng đồng tốt lành như thế đâu phải dễ? Nhất là trong thế giới duy vật chất, thực dụng và tiêu thụ ngày nay. Trong thế giới ấy, người ta thường chỉ coi là đáng kể, những gì cân đong đo đếm được. Những gì xài được. Những gì biến thành tiền được. Nếu như người ta còn biết để cho tâm hồn mình dìm vào bầu khí thanh bình, huynh đệ, trong sáng và ngay cả mơ mộng của đêm Giáng Sinh, thì đã là quý lắm rồi.

Giáng Sinh càng ngày càng bị dốc sạch ý nghĩa thiêng liêng. Ðối với rất nhiều người, Giáng Sinh là ông già Noen, là những gói quà, là những bữa tiệc rê-vây-dông truyền thống, những buổi dạ hội và buổi khiêu vũ... Ðối với các nhà kinh doanh, đây là dịp "làm ăn" khấm khá (ở Phương Tây, là dịp làm ăn có một không hai trong năm). Ở Ðức, mới đây có một linh mục đứng ra tìm cách phục hồi lại ý thức tôn giáo đúng đắn về lễ Giáng Sinh, cũng như ý nghĩa của những tập tục truyền thống tốt đẹp về mùa lễ này. Ngài nói: "Santa Claus (ông già Noen) là một sáng chế của kỷ nghệ quảng cáo". Nhân vật này đã tranh mất vị trí ngày xưa được dành cho thánh Ni-cô-la, một giám mục thánh thiện ở thế kỷ thứ 4, hay cứu giúp người cùng khốn. 

Còn Santa Claus là một "nhân vật" không có thực, được dựng nên theo mẫu một vị thần của dân Ðức cổ, nhưng nay đã trở thành "khôn mặt" quảng cáo số một cho lễ Noen. Vị linh mục Ðức nó trên muốn dành lại chỗ đứng của Thánh Ni-cô-la đã bị tước đoạt. Nổ lực của ngài hiện được nhiều người hưởng ứng, nhưng không biết có cưỡng nổi xu hướng "duy trần tục " đang muốn loại trừ mọi dấu vết của Kitô giáo ra khỏi nền văn hóa Tây phương hay không (mặc dù ai cũng biết không có Kitô giáo thì cũng đã không có văn hóa Tây phương như hiện nay). Ở Canađa thậm chí có nơi còn thay thế câu chúc mừng " Merry Christmas" -Giáng sinh vui vẻ- bằng câu "Happy Holidays" - Những ngày nghỉ hạnh phúc! Hoặc gọi cây thông Giáng sinh (Christmas Tree) là "cây ngày nghỉ" (Holiday tree). Ðơn giản chỉ vì họ muốn tránh chữ Christ -Kitô- trong từ Christmas!!! Theo chủ trương này, có lẽ phải thay thế hàng ngàn danh từ trong nhiều ngôn ngữ Phương Tây nếu muốn gột sạch mọi dấu vết tôn giáo trong đó. 

Lạy Chúa Giêsu Hài Ðồng, xin Chúa đừng buồn khi người ta hằn học với Chúa đến mức không còn muốn nhắc tới tên Chúa nữa, nhưng lại biết "khai thác" đủ cách ngày sinh của Chúa. Thánh Gioan, vị Tông Ðồ của Chúa sau này, đã chẳng viết ngay nơi trang đầu của cuốn Phúc Âm của Người rằng "Chúa đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng nhìn nhận" đó sao? Con vừa nghe lại bài hát trong đó có câu:"Hỡi Bêlem, sao ngươi bạc đến thế?".

(17.12.02)