Giao Ước Sự Sống

Trong bài Phúc Âm lễ Mình Máu Thánh Chúa (B), những lời Chúa Giêsu nói trong bữa Tiệc Ly thường được lập lại mỗi khi truyền phép trong Thánh Lễ ngày nay: "Tất cả các con hãy nhận lấy mà ăn: Vì này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con... Tất cả các con hãy nhận lấy mà uống, vì này là chén máu Thầy, máu giao ước mới và vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho các con và mọi người được tha tội". Nếu để ý, chúng ta thấy điểm đặc biệt của lời truyền phép là đề cập đến giao ước máu. Muốn hiểu được điều này, chúng ta cần biết về lịch sử của dân tộc Do Thái.

Trong Do Thái Giáo, có ba dịp lễ lớn mà tín hữu phải đi hành hương lên đền thánh Giêrusalem, và dịp lễ lớn nhất là lễ Vượt Qua, được cử hành trong vòng bẩy ngày (từ ngày 14 đến ngày 21 tháng Nissan [tháng Ba, Tư]). Một trong những điểm đặc biệt khi mừng lễ Vượt Qua là tín đồ phải ăn thịt chiên, được gọi là chiên Vượt Qua, với bánh không men. Nguồn gốc lễ Vượt Qua là gì?

Trong thời cổ Ai Cập, cách đây trên ba ngàn năm, người Ai Cập đô hộ dân tộc Do Thái và gây nhiều đau khổ cho dân tộc này. Họ đã kêu cầu đến Giavê Thiên Chúa và Người đã động lòng thương, và đã chọn ông Môsê đại diện cho Thiên Chúa đến gặp vua Ai Cập (Pharaoh Ramses II) để đòi trả tự do cho dân tộc Do Thái. Dĩ nhiên Pharaoh không chịu, và Thiên Chúa đã giáng nhiều tai họa xuống cho dân Ai Cập. Tai họa sau cùng là Thiên Chúa sai Thần Báo Tử đến từng nhà của người Ai Cập để giết các con đầu lòng. Và Thiên Chúa dặn: để ra dấu cho Thần Báo Tử biết đâu là nhà của người Do Thái, dân chúng phải giết một con chiên non, tinh tuyền, rồi lấy máu của nó bôi lên khung cửa chính của căn nhà. Khi Thần Báo Tử thấy dấu máu ấy thì vượt qua mà không giết hại. Từ đó trở đi, người Do Thái kỷ niệm sự "vượt qua" của Thần Báo Tử và sự toàn vẹn của những người con đầu lòng trong ngày lễ Vượt Qua.

Bài đọc một hôm nay tiếp tục câu chuyện trên sau khi đưa dân Do Thái ra khỏi đất Ai Cập, ông Môsê lên núi Sinai cầu nguyện và Chúa đã ban cho Mười Điều Răn. Và khi xuống núi ông đã truyền lại cho dân tộc Do Thái những gì Thiên Chúa nói với ông, và họ đã thề hứa thi hành những gì Thiên Chúa muốn để đền ơn Người đã cứu thoát họ khỏi cảnh nô lệ. Giữa Thiên Chúa và dân tộc Do Thái có một giao ước và được cam kết bằng sự sống--tượng trưng bằng máu thú vật--bởi đó ông Môsê mới lấy máu rưới lên bàn thờ và rảy trên dân chúng rồi nói "Đây là máu giao ước ĐỨC CHÚA đã lập với anh em, dựa trên những lời này." (Xh 24:8)

Nói về sự cam kết, ngày nay, chúng ta thường nghe về khế ước, hợp đồng chứ ít khi nghe đến giao ước. Vì nói đến giao ước là phải nói đến máu, và lời cam kết được bảo đảm bằng sự sống. Khi giao ước với nhau, người giao ước phải hấp thụ máu của nhau, hoặc là uống máu hoặc là thấm nhập qua mạch máu, bởi đó họ liên kết với nhau có thể nói còn chặt chẽ hơn anh chị em ruột.

Người Việt có sự cam kết tương tự như giao ước được gọi là "uống máu ăn thề", đó là khi họ lấy máu của nhau pha chung vào một chén rượu rồi chia nhau uống để nói lên sự thề hứa quyết liệt về điều gì đó mà nếu ai không thi hành, người ấy sẽ phải chết.

Dân Do Thái xưa đã được Thiên Chúa cứu cho khỏi phải chết qua việc sát tế một con chiên và lấy máu của nó bôi lên cửa. Đến thời Chúa Giêsu, Thiên Chúa cũng cứu sống chúng ta bằng chính Máu của Đức Giêsu, là Chiên Thiên Chúa, đã đổ ra trên thập giá. Và Thánh Phaolô đã giải thích điều này rất rõ trong bài đọc hai:

"Nếu máu dê và máu bò ... rảy lên những kẻ nhiễm uế còn thánh hoá được họ, nghĩa là cho thân xác họ trở nên trong sạch, thì máu của Đức Ki-tô càng hiệu lực hơn biết chừng nào; qua Thần Khí hằng hữu, Người đã tự hiến như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa, để (máu Người) thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa tới sự chết mà thờ phượng Thiên Chúa hằng sống". (Dt 9:13-14)

Ngày nay, qua Chúa Giêsu, Thiên Chúa giao ước với chúng ta không phải một lần, mà mỗi khi chúng ta rước Mình Máu Thánh Chúa, giao ước đó lại được canh tân, được tái lập. Vì giao ước là một cam kết bằng máu cho nên chính Chúa Giêsu phải hiện diện trong bánh và rượu. Nói cách khác, của lễ bánh và rượu không phải là biểu tượng cho Chúa Giêsu (như người Tin Lành chủ trương) mà qua quyền năng của Chúa Thánh Thần, bánh và rượu trở nên chính Mình và Máu của Chúa Giêsu, nếu không, giao ước đó không thành sự. Nói khác đi, nếu giao ước không có máu thì phải gọi là khế ước, nhưng Chúa Giêsu đã gọi đó là "giao ước mới và vĩnh cửu", như được đọc trong lời truyền phép mỗi Thánh Lễ, thì chắc chắn rằng điều Chúa Giêsu muốn nói là điều mà người Công Giáo tin tưởng từ xưa đến nay và được nhắc lại hằng năm trong ngày lễ Mình và Máu Thánh Chúa.

Chúa muốn kết hợp với chúng ta qua việc ăn thịt và uống máu của Người! Và chúng ta phải kết hợp với Chúa như thế nào? Sự kết hợp ấy ảnh hưởng gì đến đời sống chúng ta?

Thật không dễ để hiểu một điều siêu nhiên và Thiên Chúa đã biết điều đó cho nên ngay từ thời Cựu Ước, các tiên tri đã so sánh tình yêu của Giavê Thiên Chúa dành cho dân Israel tương tự như tình yêu của chồng dành cho vợ. Đến thời Tân Ước, Thánh Phaolô cũng đã giúp chúng ta hiểu được phần nào mầu nhiệm của sự kết hợp ấy khi người so sánh tình yêu vợ chồng với tình yêu của Chúa Giêsu dành cho Giáo Hội (là chúng ta. [Eph. 5:25]). Và ý nghĩa này vẫn được tiếp tục lưu truyền cho đến ngày nay qua lời khấn trọn đời của các nữ tu--họ là các vị hôn thê của Đức Kitô! Nói tóm lại sự kết hợp với Thiên Chúa được thực tế hóa bằng việc kết hôn.

Có lẽ không phải là tình cờ khi hôn nhân Công Giáo được coi là giao ước chứ không phải là khế ước như ngoài đời. Vì khi hai vợ chồng Công Giáo cử hành bí tích hôn nhân, tức là khi họ "kết hợp và lưu truyền sự sống", họ hấp thụ máu của nhau qua cơ quan sinh sản. Vì vậy, có thể nói giao ước hôn nhân hay lời thề khi kết hôn không chỉ được cam kết có một lần mà là thường xuyên được tái lập, được canh tân mỗi khi hai vợ chồng "cử hành giao ước kết hợp". Nói cách khác, tương tự như bí tích Thánh Thể có thể tái diễn trong Thánh Lễ, bí tích hôn nhân cũng không chỉ xảy ra có một lần vào ngày cưới, nhưng xảy ra bất cứ lúc nào mà hai vợ chồng Công Giáo "làm nên tình yêu" ([make love]. Chữ này bị tục hóa quá nhiều đến độ ý nghĩa đích thật của nó đã bị sái lệch nên chúng ta cần phải thận trọng suy nghĩ lại).

Hãy thử dùng tình yêu vợ chồng để hiểu về sự kết hợp với Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể. Mục đích của hôn nhân Công Giáo là "kết hợp và lưu truyền sự sống", nhưng nếu hai vợ chồng coi thường việc "cử hành giao ước hôn nhân" vì sai lầm cho rằng đó là một điều xấu xa ghê tởm--nhiều người còn coi đó là tội lỗi--thì có thể nói họ không muốn kết hợp, hoặc họ sẽ thi hành điều đó một cách "cẩu thả", "ích kỷ", "hời hợt" thì họ sẽ không làm "làm nên tình yêu". Khi coi thường việc kết hợp thì họ cũng không thấy đó là cơ hội tốt đẹp để thấy rõ con người thật của nhau--có ưu và khuyết điểm--để thông cảm và tha thứ cho nhau, và chính lúc đó là khi họ canh tân lại lời thề khi kết hôn. Khi hai vợ chồng coi thường việc kết hợp, đời sống của họ cũng không khác gì hai người "share" phòng: mang tiếng là sống chung, ngủ chung nhưng thực sự họ không "làm nên tình yêu". Nói cách khác, giao ước hôn nhân không ảnh hưởng gì đến lối sống của họ. Tương tự như vậy, nếu chúng ta coi việc rước lễ chỉ là một thói quen khi đi lễ thì Mình và Máu Chúa Giêsu sẽ không ảnh hưởng gì đến đời sống chúng ta.

Ngược lại, nếu chúng ta coi việc rước Mình Máu Thánh Chúa là một nghĩa cử, một hành động đương nhiên phải xảy đến khi hai người yêu nhau--là muốn kết hợp với nhau--thì lúc bấy giờ Mình Máu Thánh Chúa sẽ có hiệu lực thay đổi con người chúng ta biết chừng nào. Vì khi rước lễ là khi chúng ta canh tân lại lời thề lúc rửa tội: từ bỏ ma qủy cũng như các việc làm của chúng, và tin vào Thiên Chúa cũng như con đường của Người, dù có những lúc tối tăm, những lúc đau khổ, những lúc chán chường tuyệt vọng nhưng chúng ta tin tưởng rằng chương trình của Thiên Chúa vẫn tốt đẹp hơn hoạch định của chúng ta. Hơn nữa, khi rước lễ là khi chúng ta được kết hợp với Thiên Chúa, và vì thế, để xứng đáng với vinh dự đó, chúng ta phải chuẩn bị đời sống, phải ăn năn sám hối về những hành động sái quấy của mình, phải thay đổi con người chúng ta.

Tương tự như hai vợ chồng muốn thực sự "làm nên tình yêu", mỗi người phải nghĩ đến nhau, phải để ý đến cảm xúc của nhau và phải trở nên một về tình cảm trước đã. Có nghĩa tâm hồn họ phải thực sự hòa hợp với nhau và muốn được như vậy họ phải hiểu nhau và thực sự cố gắng sống lời thề hứa khi kết hôn, là "yêu thương nhau khi thịnh vượng hay lúc gian nan, khi mạnh khỏe hay lúc đau yếu, khi còn xinh đẹp hay lúc xấu xa, khi còn việc làm hay lúc thất nghiệp, v.v.", lúc đó họ mới thực sự yêu nhau. Từ hòa hợp cảm xúc đi đến kết hợp thể xác họ mới "làm nên tình yêu". (Chính vì vậy, sự giao hợp thể xác của hai người không phải là vợ chồng thì không bao giờ "làm nên tình yêu". Theo tiếng Mỹ, họ chỉ "have sex" chứ không "make love").

"Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn." Sự kết hợp đằm thắm của hai vợ chồng đã đem cho họ sức sống thế nào thì bí tích Thánh Thể cũng đem lại cho chúng ta sự sống mãnh liệt như vậy để vượt qua nhưng cam go, thử thách của đời sống, để còn giữ được sự trung tín với Thiên Chúa.

Giao ước là một kết ước không có điều kiện tiêu hủy. Một khi đã cam kết, giao ước đó còn mãi dù bất cứ điều gì xảy ra. Một khi đã "uống máu ăn thề" thì ai không thi hành điều cam kết, người ấy sẽ phải chết chứ không thể huỷ bỏ giao ước. Thiên Chúa luôn trung tín, nhưng loài người chúng ta thường hay sa ngã, bất trung, vi phạm điều chúng ta thề hứa khi rửa tội, nhưng chúng ta không phải chết vì Chúa Giêsu đã lập nên bí tích hòa giải để tha tội cho chúng ta, giúp chúng ta xứng đáng canh tân lại lời thề hứa mỗi khi rước lễ.

Lễ Mình Máu Thánh Chúa nhắc nhở chúng ta về sự hiện diện thật sự của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể. Đó là một giao ước mà qua đó Thiên Chúa hứa cứu độ chúng ta, hứa ban sự sống vĩnh cửu cho chúng ta, và Thiên Chúa cam kết lời hứa đó bằng Máu của Chúa Giêsu. Đây là một điều vô cùng cao trọng, không ai có thể thấu hiểu được, hoặc có thể đền ơn được. Nhưng may mắn thay, Thiên Chúa giao ước với chúng ta chỉ vì yêu, bởi vậy Người không đòi hỏi chúng ta điều gì hơn là tình yêu của chúng ta đối với Người phải được thực tế hóa bằng tình yêu tha nhân mà trước hết, gần nhất là vợ/chồng, rồi đến cha mẹ/con cái, sau đó chúng ta cũng đừng quên những người lân cận với chúng ta./.

Pt Giuse Trần Văn Nhật
(Trích Người Tín Hữu Online)