Sự hiện diện và vai trò của Đức Mẹ Maria trong việc loan báo Tin Mừng

Bước vào Tháng Mười dương lịch: tháng của Kinh Mân Côi, Tháng của sứ vụ truyền giáo, chúng ta thử nhìn vào vai trò của Đức Maria trong công cuộc loan báo Tin Mừng của Hội Thánh, để tin tưởng cầu nguyện với Mẹ.

I. Sự Hiện Diện Của Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa trong Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng Cho Các Dân Tộc.

1. Đức Maria trong chương trình cứu độ nhân loại của Thiên Chúa.

Ađam-Evà, nguyên tổ nhân loại, đã phạm tội chống lại Thiên Chúa. Tội đó đã ảnh hưởng đến toàn thể loài người. Thiên Chúa là Cha giàu lòng xót thương, đã thực hiện chương trình cứu độ con người. Chương trình được thi hành với sự góp mặt của một Người Nữ.

Trong Cựu ước, Người Nữ đó được giới thiệu và báo trước: "Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó." (St 3,15). Ngôn sứ Isaia cũng loan truyền : "Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên Chúa - ở - cùng - chúng - ta" (Mt 1,23; x. Is 7,14).

Thời Tân Ước, Người Nữ được báo trước trong Cựu ước đã xuất hiện theo đúng kế hoạch của Thiên Chúa : "Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử" (Gl 4,4-5). Người Nữ đó được Tin Mừng Luca xác định là Trinh Nữ Maria, thành Nadarét, miền Galilê (x.Lc 1,26-27).

2. Đức Maria hiện diện cùng Chúa Giêsu, Đấng cứu độ trần gian.

- Với lời thưa "Xin vâng" trong khung cảnh Truyền Tin, Đức Maria đã kết thân đời mình với chương trình cứu độ trần gian của Thiên Chúa. Cụ thể, Ngài đã gắn bó với Ngôi Lời Thiên Chúa, trong vai trò làm Mẹ Đấng Cứu thế, Mẹ Thiên Chúa làm người. Từ sứ vụ cao cả đó, Đức Maria luôn hiện diện bên Chúa Giêsu, là "Tin Mừng trọng đại, Tin Mừng cho toàn dân" (Lc 2,10).

- Quả thực, Đức Maria luôn tích cực hiện diện cùng Chúa Giêsu, trong suốt cuộc đời dương thế của Ngài.

Trong biến cố Nhập Thể, Mẹ đã bảo vệ, giữ gìn và nuôi dưỡng "Tin Mừng Cứu độ" trong lòng dạ và trong tâm hồn (x. Lc 1,34-38).

Trong cuộc Viếng Thăm bà Êlisabét, Mẹ đã giới thiệu "Tin Mừng Cứu độ" cho người thân, để nhận ra địa vị của mình qua lời chào chúc của người chị họ: "Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?" (x. Lc 1,39-56).

Tại Belem, Mẹ đã chiêm ngưỡng Hài Nhi Giêsu là "Tin Mừng Bình An" cho nhân loại qua tiếng ngợi khen của đoàn thiên sứ: Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương (x. Lc 2,1-20). Và trong biến cố này, Mẹ đã âm thầm chứng kiến những người đầu tiên được Chúa yêu thương: đó là những người chăn chiên (x. Lc 2,15-20) và các vị chiêm tinh (x. Mt 2,1-12).

Tại Đền thánh Giêrusalem, Mẹ đã chăm chú nghe lời phát biểu của ông già Simêon : Đức Giêsu là "Tin Mừng Cứu độ" dành sẵn cho muôn dân, là Ánh Sáng soi đường cho dân ngoại (x. Lc 2 30-32).

Trong biến cố đem Hài Nhi Giêsu trốn sang Ai Cập và từ Ai Cập về đất It-ra-en, Mẹ đã thể hiện vai trò bảo vệ "Tin Mừng Cứu độ" trước âm mưu hãm hại của vua Hêrôđê và giúp Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể, nhập thế thực sự : "Ngài sẽ được gọi là người Nadarét" (Mt 3,23).

Năm Đức Giêsu 12 tuổi, Mẹ chứng kiến "Tin Mừng Cứu độ" tỏa sáng giữa các bậc thầy Do Thái và thoáng nhận ra sứ mệnh cao cả của con mình: "Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?" (Lc 3,49).

Trong cuộc sống ẩn dật tại Nadarét, Đức Giêsu ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta. Đây là một thời gian dài, Đức Maria tiếp cận và sống tương quan mật thiết với "Tin Mừng Cứu độ", với "Ngôi Lời nhập thể", với "Thiên Chúa làm người và ở giữa chúng ta", như Tin Mừng Luca ghi nhận vắn gọn: "Riêng Mẹ Ngài thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng" (Lc 3,51).

Khi Đức Giêsu công khai rao giảng Tin Mừng Nước Trời, Mẹ Maria vẫn luôn quan tâm theo sát Ngài : "Mẹ và anh em Đức Giêsu đến gặp Ngài, mà không làm sao lại gần được, vì dân chúng quá đông. Người ta báo cho Ngài biết: "Thưa Thầy, có Mẹ và anh em Thầy đang đứng ngoài kia, muốn gặp Thầy" (Lc 8,19-20; x. Mt 12, 46-50; Mc 3,31-35).

Đặc biệt, Mẹ đã hiện diện cùng với Chúa Giêsu tại tiệc cưới Cana. Trong dịp này, nhờ lời chuyển cầu của Mẹ, Chúa Giêsu đã làm phép lạ đầu tiên để bày tỏ vinh quang của Ngài, như Niềm Vui cho mọi người (x. Ga 2,1-12).

Dưới chân thập giá, Đức Maria đã nhận lời trao trối của Chúa Giêsu : "Thưa Bà, đây là con của Bà" (Ga 19,26; x.Mt 27,55-56; Mc 15,40-41; Lc 23,49). Với lời giới thiệu đó, Mẹ đã âm thầm nhận ra ý định của Chúa Giêsu: Chúa muốn Mẹ tiếp tục cộng tác với chương trình cứu độ nhân loại, bằng cách trợ giúp các tông đồ và hướng dẫn Hội Thánh sơ khai.

Vì thế, sau khi Chúa Giêsu sống lại và lên trời, Đức Maria đã cùng với các tông đồ cầu nguyện tại phòng Tiệc ly, để chờ đón Chúa Thánh Thần hiện xuống. Chúa Thánh Thần đã ngự đến dưới hình lưỡi lửa và tràn đổ muôn hồng ân trên Cộng đoàn Giáo Hội sơ khai, giúp các tín hữu mạnh dạn và nhiệt thành loan báo Tin Mừng cứu độ (x. Cv 2,1-13). Đức Maria tiếp tục cộng tác với Chúa Thánh Thần, hướng dẫn Hội Thánh thực thi lệnh truyền của Chúa Giêsu : -Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo; - Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ; - hãy đi và làm chứng cho Đức Giêsu tử nạn và phục sinh; -Hãy làm chứng cho Đức Giêsu đến tận cùng trái đất

(x. Mt 28, 19-20; Mc 16, 15-16; Cv 1,8).

3. Đức Maria hướng dẫn và trợ lực Hội Thánh trong sứ vụ loan báo Tin Mừng.

- Trong bài huấn giáo thứ tư hàng tuần, ngày 14.3.2001, Đức Gioan-Phaolô II đã quả quyết : "Trong cuộc hành trình đức tin qua dòng lịch sử, Đức Maria luôn đồng hành cùng Hội Thánh như mô hình hiệp thông cho Giáo Hội trong đức tin, đức mến và sự hiệp nhất với Chúa Kitô. Hiện diện muôn đời trong mầu nhiệm Chúa Kitô, Mẹ cũng hiện diện giữa các tông đồ, giữa lòng Hội Thánh sơ khai và Hội Thánh thuộc mọi thời đại. Quả thực, Hội Thánh được hình thành tại Phòng Tiệc ly cùng với Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu và với các anh em của Chúa. Vì thế, ta không thể nói về Hội Thánh mà lại không nhắc đến sự hiện diện của Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu cùng với các anh em của Ngài".

Trong Thông điệp "Mẹ Đấng cứu thế" (25.3.1987), Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II cũng ghi nhận : "Suốt đời mình, Hội Thánh luôn được liên kết với Thân Mẫu Thiên Chúa bằng một mối dây mà trong mầu nhiệm cứu độ, bao gồm cả quá khứ, hiện tại lẫn tương lai, Hội Thánh tôn kính Ngài như Người Mẹ tinh thần của nhân loại và như Đấng cầu xin ân sủng cho chúng ta" (số 47).

Thực vậy, Hội Thánh là Thân Thể, là Hiền Thê của Chúa Kitô. Mẹ Maria đã liên kết mật thiết với Chúa Kitô, Mẹ cũng hiện diện tích cực với Hội Thánh trong cuộc lữ hành trần thế, đặc biệt trong sứ vụ loan báo Tin Mừng cho các dân tộc. Đó là niềm tin của Dân Kitô giáo. Vì thế, trong Tông Huấn "Hội Thánh tại Châu Á", Đức Maria đã được nhắc gọi với những danh hiệu tiêu biểu như : Mẹ Chúa Kitô (số 20), Mẹ mọi người (s : 51), Kitô hữu cũng như không Kitô hữu, Ngôi sao hướng dẫn công cuộc loan báo Tin Mừng và Gương mẫu của các môn đệ (s.51), Mẹ hay xót thương (ss. 11, 12, 14, 20, 45), Người Nữ của đối thoại và hiệp thông (ss. 2, 14, 19, 20).

- Trong khi tiếp tục thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng của Chúa Kitô, Hội Thánh luôn tin tưởng vào vai trò hướng dẫn và trợ lực của Mẹ Maria.

Mẹ vẫn tích cực liên đới với công cuộc cứu độ trần gian (x. Lumen Gendium, số 56).

Mẹ luôn hiệp nhất với Chúa Giêsu trong việc mở mang Nước Thiên Chúa.

Mẹ là Mẹ Hội Thánh, Mẹ mỗi kitô hữu, đặc biệt là Mẹ các sứ giả loan báo Tin Mừng.

Thánh Irênê, thế kỷ thứ II, đã viết : "Đức Maria đã trở nên nguyên nhân ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại" (Adv. Haer. 3, 22,4; PG 7,959) và dạ trong sạch của Đức Trinh Nữ đã tái sinh loài người trong Thiên Chúa" (Adv. Haer. 4,33,11; PG 7, 1080). Thánh Amrôxiô cũng viết : "Một Trinh Nữ đã sinh ơn cứu độ cho trần gian, một Trinh Nữ đã ban sự sống cho mọi loài" (Ep. 66,33; PL 16,1198). Và thời Trung Cổ, thánh Anselmô đã cầu nguyện với Đức Maria: "Ôi, Mẹ là Mẹ sự công chính và những kẻ công chính, Mẹ là Mẹ sự hòa giải và những kẻ được giao hòa, Mẹ là Mẹ ơn cứu độ và những kẻ được cứu vớt" (Or. 52,8; pL 158,957).

II. Sống Kinh Mân Côi trong Tinh thần Truyền Giáo

1. Tháng Mười : Tháng của Kinh Mân Côi.

- Theo truyền thống, Hội Thánh đã dành hai tháng trong năm để tỏ lòng tôn vinh Đức Trinh Nữ Maria: Tháng Năm, các tín hữu được mời gọi dùng nhiều hình thức khác nhau để bày tỏ tâm tình với Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Hội Thánh qua thái độ yêu mến, tin cậy và tôn kính. Tháng Mười, họ đặc biệt tôn vinh Đức Maria như Người Mẹ đã từng giúp đàn con chiến thắng trong những tình huống khó khăn nhất của cuộc đời. Cụ thể, trong Tháng Mười, Hội Thánh đề cao sức mạnh của Kinh Mân côi, là kinh nguyện do chính Đức Maria giới thiệu.

Thực vậy, năm 1213, thời thánh Đaminh, nhờ Kinh Mân Côi, Hội Thánh đã dẹp tan một bè rối nguy hiểm cho đức tin kitô hữu tại miền Nam Nước Pháp. Ngày 07.10.1571, sức mạnh của Kinh Mân Côi đã đánh bại đoàn quân hiếu chiến Thổ Nhĩ Kỳ tại vịnh Lépante. Ngày 13.10.1917, Đức Maria đã hiện ra tại Phatima, Bồ Đào Nha, và tự xưng: "Ta là Mẹ Mân Côi". Mẹ cũng tha thiết nài xin các tín hữu hãy đọc kinh Mân côi hằng ngày, để cứu giúp các linh hồn khỏi sa hỏa ngục.

- Vì thế, Hội Thánh luôn cổ vũ việc đọc Kinh Mân Côi: chung cũng như riêng, đặc biệt trong các gia đình. Mới đây, ngày 16.10.2002, Đức Gioan-Phaolô II đã ban hành Tông thư "Kinh Mân Côi Đức Trinh Nữ Maria", nhằm đề cao giá trị và phục hồi kinh nguyện truyền thống này trong sinh hoạt đạo đức của Hội Thánh. Ngài tha thiết mời gọi: "Xin tất cả một lần nữa hãy cầm lại chuỗi Mân Côi với lòng tin tưởng. Hãy khám phá lại Kinh Mân Côi dưới ánh sáng của Kinh Thánh, trong sự hài hòa với Phụng vụ, và trong bối cảnh đời sống hằng ngày của anh chị em" (số 43).

2. Kinh Mân Côi trong công cuộc loan báo Tin Mừng.

Công cuộc loan báo Tin Mừng đang là sứ vụ khẩn cấp hàng đầu của Hội Thánh hiện nay. Thực vậy, bước vào Ngàn Năm Mới, Đức Gioan-Phaolô II đã thôi thúc toàn thể Dân Chúa: "Hãy ra khơi thả lưới : Duc in altum" (Lc 5,6). Ngài cổ vũ mọi tín hữu hãy hăng say truyền giáo như các tông đồ sau ngày lễ Hiện Xuống (NMI, số 40). Ngài giới thiệu Mẹ Maria như "Ngôi Sao soi chiếu công cuộc Tân Phúc Âm hóa", như Bình Minh ngời sáng, như Người dẫn đường chắc chắn nhất, giúp ta loan báo Tin Mừng (NMI, số 58).

Vì thế, khi đọc Kinh Mân côi, ta có thể cùng với Đức Maria bước vào Mầu nhiệm của Chúa Kitô, vì Kinh Mân Côi là "Bản tóm tắt Tin Mừng". Khi đọc Kinh Mân Côi, ta có thể cùng với Đức Maria nhiệt tình loan báo Chúa Kitô, Đấng cứu độ trần gian cho mọi người. Và đặc biệt, khi đọc Kinh Mân Côi, ta có thể nhận được sự hỗ trợ và lời chuyển cầu đắc lực của Đức Maria cho sứ vụ truyền giáo của Hội Thánh, như lời quả quyết của Đức Gioan-Phaolô II : "Ngày nay, chúng ta đang phải đối diện với những thách đố mới.Tại sao một lần nữa chúng ta không chạy đến Kinh Mân Côi, với cùng một đức tin như những người đã đi trước chúng ta? Kinh Mân Côi vẫn giữ nguyên sức mạnh của nó và tiếp tục là một nguồn mạch mục vụ có giá trị cho bất cứ người loan báo Tin Mừng tốt lành nào" (RVM, số 17).

Lm Giuse Phạm Quang Tòng
VietCatholic News 05/10/2006