Ðức Mẹ Trà Kiệu

Uyên Lan

Nhà thờ Trà Kiệu tọa lạc trên đồi Bửu Châu, thuộc Tình Quảng Nam, Huyện Duy-Xuyên, nơi Ðức Mẹ hiện ra phù hộ các giáo hữu thời Văn Thân năm 1885 khi có phong trào Cần Vương tiêu diệt người công giáo. Trong thời chiến tranh cận đại, địa hạt Trà-Kiệu còn nỗi danh là vùng tự trị, vị chủ chăn nơi ấy một lòng bảo vệ giáo dân và đền thờ lịch sữ thời danh này, nên đã cho trang bị phòng thủ như một thành trì kiên cố từ vũ khí đến lòng dân, nơi tôi hằng ngưỡng mộ, vậy mà đã từng sống ở Ðànẵng 5 năm dài tôi lại chưa một lần đặt chân đến! Khi phải rời Sàigòn ra miền Trung, tôi lập tức bị ”đóng khung” cùng lúc với tờ Hôn thú, rồi vì lý do ”không an toàn” mà năm này qua năm khác tôi vẫn chưa được biết nhà thờ Trà-Kiệu ra sao cả!

Lần này nhân cơ hội về bốc mộ phần em trai tôi nằm trong vùng sắp giải tỏa. Rồi những cơ hội chừng như được Chúa và Mẹ an bày, cho tôi làm cuộc hành hương nhỏ qua 3 miền. Trước tiên, kính viếng Mẹ Fatima bên cầu Bình-Triệu. Vạn ngôi Thánh đường im bóng bên dòng sông xưa, nơi mà hồi còn đi học tôi thường đến để ôn bài thi và cầu nguyện. Ðường vào nhà thờ có nhiều thay đổi, kỷ niệm xưa như sống lại trong lòng với bùi ngùi tiếc nuối bỡi vì những gì thuộc về tôi nơi chính quê hương mình đã không còn gì cả ngoài người chị mái tóc bạc phơ dù tuổi đời chưa đủ gọi là già! Gió mơn mang từ dòng sông thoảng mát, tôi bước vào nhà thờ thơm ngát mùi hương, hoa Huệ trắng phủ quanh khung thánh, rải rác nơi những hàng ghế vẫn có con cái Mẹ tìm đến cậy trông, tôi nghe niềm xúc động len dần qua con tim thành khẫn, nhìn Mẹ đưa hai tay ban phát ơn thiêng, tôi dâng muôn lời cầu nguyện cho gia đình, thân nhân, bạn hữu, cho cả nhân loại được an lành và những ai lạc hướng sớm tìm về với Chúa, nhận ơn Mẹ từ nhân để tránh cơn thịnh nộ từ Ðức Chúa Trời. Tôi cũng dâng cả bao nhiêu lo âu buồn bã trong đời rồi lưu luyến tạ từ Mẹ Fatima, lần này không biết khi nào mới được trở lại! Tôi ra bờ sông nhìn những đám lục bình lá xanh với tim tím màu hoa trôi như cuộc đời tôi bương chải phương xa! Hôm sau tôi đáp chuyến bay về Ðànẵng thắp nhang và viếng mộ bố mẹ chồng, cũng để tìm đến Mẹ Trà-Kiệu.

Trên con đường cong cong dẫn lên đồi vào buổi trưa chang hòa nắng đổ, đám học sinh tan học trở về chở nhau trên những chiếc xe đạp cọc cạch, phần đông đi bộ dọc hai bên đường làng, cây cỏ khô cằn, sỏi đá dưới chân, có những gương mặt chừng như điễm chút ưu tư nào đó, không như lứa tuổi tôi lúc cùng thời thơ dại, lòng tôi thoáng chút xót xa! Qua chiếc cổng đơn sơ, Thánh đường đóng cửa, tôi ra ngoài núi Ðức Mẹ nằm trên dốc đá, dường như núi Ðức Mẹ ở đâu cũng gần giống nhau ở cách cấu trúc. Có người thanh niên đứng bán những hình ảnh nhà thờ Trà-Kiệu xưa và nay, có tấm ghi chú Mẹ hiện ra lần thứ 3 vào năm 1967 trước sự chứng kiến của trên 700 người cả lương và giáo, tiếc rằng tôi không có tài liệu về sự kiện ấy. Em đã hướng dẫn tôi và tìm người bảo vệ mở cửa cho tôi lên nhà thờ trên đĩnh đồi cỗng kín rào cao, lên cả trăm bậc thang đến nơi mồ hôi thấm áo, từ con dốc đó lên nhà thờ còn có thêm một tầng cao với hai tam cấp hai bên, nơi đó mới là khuôn viên nhà thờ, lòng tôi rạo rực trước phong cảnh đẹp tuyệt vời ấy, phía trước là một giếng nước trong veo có tượng Chúa Giêsu và Thiên thần hai bên, tôi thả cái lon nhỏ có sợi dây dài xuống kéo một ít nước giếng của Ðức Mẹ lên, không biết trước nên tôi không có chai hủ gì cả, cậu ấy cho tôi hai cái bao nhỏ thường dùng đựng nước thánh nơi đó, tôi đổ đầy cột chặt định đem về phân phát cho mọi người cần đến. Ðem bịch nước vào với niềm xúc động bao la qùi trước bàn thờ mà lòng dạt dào tin yêu, như đứa con lạc loài vừa tìm về với Mẹ mình, tôi đổ tuôn ngàn tâm sự chất chứa trong tim và dâng bao lời cầu xin vẫn luôn vướng đọng trong lòng mà nghe như có nguồn an ủi từ Mẹ, ngọt ngào, bình an...

Rồi cũng phải ra đi, tôi nhìn kỷ thêm một lần, đền thờ Mẹ có hình cây tháp chẻ đôi trên ngọn, đỉnh cây Thánh giá, tất cả làm bằng gỗ đánh bóng màu gụ nâu, gắn đày bia đá tạ ơn, phía trước là tượng Mẹ bồng Chúa Giêsu có gắn hàng chữ AVEMARIA bằng đèn tube uốn thành, dưới chân Mẹ là bàn thờ, nơi cha cử hành thánh lễ, tất cả với lối kiến trúc đơn sơ nhưng lạ mắt và thánh thoát. Hai bên trống trơn không tường vách gì cả, chỉ có bờ rào xây quanh với những chậu kiểng đặt vòng theo chen lẫn những tàng cây xanh tươi trên đĩnh đồi lộng gió ấy tạo nên khung cảnh thật nên thơ nhưng thung lũng phía dưới là làng mạc khô cằn cách biệt như cảnh thên đàng - hạ giới càng làm tôi có cảm tưởng như mình không thuộc cõi phàm trần nữa! Tôi cũng được nghe em trai ấy kễ về sự hiển linh trong những lần Mẹ hiện ra ở Trà-Kiệu, tôi càng thấy mình thật hạnh phúc và may mắn được đến ngọn đồi thánh thiện nầy. Tôi trở lại đền thờ nhìn Mẹ, một lần nữa dâng lời cầu nguyện hồi nãy, xin Mẹ ở cùng tôi và cho tôi được ở trong Mẹ, thành khẩn tạ ơn và xuống đồi, lần này đi xuống vả lại lòng tôi đang hoan hỷ nên dù con dốc vẫn cao nhưng không thấy mệt chút nào cả.

Hôm sau khi lên phi trường rời Ðà Nẵng, mang quà cáp lĩnh kĩnh, dù đã đựng nước thánh Ðức Mẹ vào chai mà cứ bung nắp hoài, sợ bị đỗ nên tôi cầm lên cầu nguyện: ”Thưa Mẹ, chai nước thánh của Mẹ con định mang về chia cho những người đau ốm bên Úc nhưng đường xá xa xôi e khó mà giữ cho an toàn, thôi con cất vào một nơi bảo đảm nhất, qua đó xin Mẹ cứu chữa và ban ơn cho những người con muốn cầu xin... ”Rồi đưa lên miệng uống hết một hơi! Dòng nước mát lạnh thấm dần vào tâm khảm tôi với niềm tin Mẹ sẽ cứu giúp và ban ơn cho những người cần đến Mẹ. Tôi thấy lòng mình thật nhẹ nhàng an vui và tràn đầy niềm tin, cậy, kính mến. Xe từ từ chuyển bánh, tôi nhìn lại nhà Mẹ lần nữa, trời đã về chiều, nắng vẫn vàng hanh cuối chân đồi mênh mông niềm luyến tiếc...


Uyên Lan (27-4-1999)