Trở lại La Vang

Thế Hùng, CSsR

Ðã 28 năm, nay tôi mới có dịp trở lại La Vang. Một ngày cuối tháng 7 vào lúc 8 giờ sáng, sau khi dùng điểm tâm bún bò tại một quán ăn nhỏ ở thành phố Huế, tôi vội vàng leo lên chiếc xe van Toyota 15 chỗ ngồi cùng với một số người thân trực chỉ ra La Vang. Ðoạn đường từ Huế ra La Vang chỉ độ 60 km (gần 38 dặm) nhưng cũng phải mất gần 1 tiếng rưỡi đồng hồ chúng tôi mới có thể đến đó bởi vì dẫu là đường trải nhựa nhưng lởm chởm và gồ ghề chứ không phẳng lì như xa lộ bên Mỹ. Lại nữa, đoạn đường Huế-La Vang như hầu hết các đoạn đường của quốc lộ 1 nối liền Bắc-Nam có bề ngang chỉ vừa đủ cho 2 chiều xe chạy nên việc qua mặt cũng phải cẩn thận. Ðó là chưa kể đến đoạn đường ra La Vang phải đi ngang qua một số thị trấn nhỏ thành thử xe phải chạy chậm lại để tránh đụng khách bộ hành hay người đi xe đạp.

Từ ngoài quốc lộ 1, vượt qua những đám ruộng và đám tre xanh là bóng dáng ngôi tháp cổ của Thánh đường La Vang hiển hiện từ xa. Từ đây, vào Thánh Ðịa La Vang chiếc xe chạy theo con đường trải nhựa dài khoảng 2 km. Ðược biết con đường này chỉ vừa mới hoàn tất vào đầu năm nay với kinh phí lên khoảng 2 tỉ đồng Việt Nam (khoảng 145 ngàn đô la Mỹ). Trước đây khi chưa làm đường nhựa này, khách hành hương La Vang phải đi vòng ở Quảng Trị dài thêm 2 km. Con đường này sau đó được rẽ làm 2 lối chạy dọc theo 2 bên Công Trường Mân Côi.

Gọi là Công Trường Mân Côi, công trường này được xây trong đầu thập niên 60, có 15 tượng đài ghi lại 15 chặng Mầu nhiệm Ðức Mẹ Mân Côi bị hư hại nhiều vì chiến tranh nhưng đã được phục hồi ngoại trừ vẫn còn 5, 6 chặng. Phóng tầm mắt từ Cổng Tam Quan tức là ngõ vào Công Trường Mân Côi, hiện đang còn làm để kịp cho ngày Ðại Lễ sắp đến, người ta có thể thấy một dải gạch lát xanh chạy giữa Công Trường đến Lễ Ðài trước mặt dẫn đến Thánh đường La Vang mà nay chỉ còn lại tháp chuông đổ nát và loang lổ những vết bom đạn của trận chiến Hè 1972.

Khi xe chạy vào gần ngôi tháp cổ, người tài xế cho tôi biết là tôi nên xuống xe để anh đưa xe vào bãi đậu qui định. Bước ra khỏi xe, nhìn đồng hồ dù chưa đến 9 giờ rưỡi sáng, tôi cũng đã cảm thấy ngay cái nóng hừng hực tạt vào mặt của khí trời Quảng Trị. Hàng mấy chục quán ăn tư nhân được dựng lên ngay trong khuôn viên Linh Ðịa, nghe nói mỗi quán phải trả cho chính quyền xã đến 1 triệu đồng VN (75 đô Mỹ) để được phép hoạt động. Nghe nói bãi đậu xe cũng vậy đủ chỗ cho khoảng 100 xe buýt đậu, cũng do chính quyền địa phương quản lý và thu tiền dù rằng vùng đất này trước đây nằm trong khuôn viên của Thánh Ðịa La Vang. Thật vậy, trước đây tổng số đất ở Linh Ðịa La Vang vào khoảng 50 hecta nhưng sau 1975, diện tích đất trên đây đã thu hẹp lại chỉ còn hơn 10 hecta vì số đất còn lại được chia cho những gia đình cách mạng gọi là "nhà thẻ đỏ". Vì thế tính ra, chiều dài của Linh Ðịa La Vang chỉ còn có từ Cổng Tam Quan đến sau lưng Nhà Thờ La Vang mà nay đã bị tiêu hủy; còn chiều ngang của Linh Ðịa thu hẹp lại chỉ còn từ Linh Ðài nằm ở tay phải Nhà Thờ, nơi có công trình ba cây đa bằng bê tông cốt sắt do Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế cho đến nhà ở của các nữ tu Dòng Mến Thánh Giá La Vang ở bên trái.

Ði bộ lại phía tháp cổ đổ nát, nhìn lên trên tôi thấy có treo một băng vải hình Ðức Mẹ La Vang tuyệt đẹp, phía dưới có một băng vải trắng với hàng chữ xanh "Cùng Mẹ La Vang tiến về Năm Thánh Cứu Ðộ 2000". Ðây là chủ đề của Năm Toàn Xá Ðức Mẹ La Vang (từ 1.1.1998 đến 15.8.1999) được khai triển theo tinh thần và nội dung Tông thư "Tiến Về Ngàn Năm Thứ Ba" của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Ðể cho ngôi tháp chuông khỏi bị hư hại thêm, vào tháng 9/1997, Ðức Cha Nguyễn Như Thể của Tổng Giáo phận Huế đã cho người phủ lớp hoá chất lên toàn bộ công trình.

Bước qua cửa của tháp chuông, ngôi thánh đường bằng gạch được xây trong những năm 1925-1928 trong thời Ðức Cha Lý (Allys) chỉ còn trơ lại một mảng mặt trước và mặt sau. Sau cuộc chiến 1972, đây là phần duy nhất của ngôi thánh đường còn sót lại cùng với ít cột kèo. Tháng 9/ 1997, Ðức Cha Nguyễn Như Thể đã cho người hạ các cột này xuống và một ngôi nhà tiền chế lợp tôn màu xanh được dựng lên trên nền cũ của ngôi Thánh đường. Nơi đây có đặt Nhà Tạm để khách hành hương đến cầu nguyện, chầu Thánh Thể và dâng Thánh Lễ khi có mưa. Cảnh tượng tàn phá của ngôi tháp cổ và thánh đường thật khác xa với một hình ảnh tôi còn ghi lại trong ký ức vào dịp Ðại hội lần thứ 17 vào năm 1970. Dù lúc đó chỉ mới cậu bé 10 tuổi, tôi cũng nhớ là đã chen chân cùng với khách hành hương trong ngôi thánh đường đẹp đẽ này và từng ngắm bảng treo có hình Ðức Thánh Cha Gioan XXIII trong sắc chỉ nâng Ðền thánh La Vang lên bậc Vương Cung Thánh Ðường ngày 22.8.1961. Nay tất cả đã bị chiến tranh tàn phá.

Như đã nói, một Lễ Ðài đã được dựng lên nằm giữa Công Trường Mân Côi và ngôi tháp. Ðược khởi công đầu tháng 6/1998, thể theo ý Ðức Cha Nguyễn Như Thể, Lễ Ðài được làm theo mô hình Tế Ðàn Nam Giao, tức là đàn tế lộ thiên của các vua Nguyễn thời xưa ở Huế. Như thế Lễ Ðài gồm có 3 tầng chồng lên nhau tượng trưng cho thuyết tam tài: Thiên, Ðịa, Nhân. Hai tầng vuông tức là tầng Nhân cách mặt đất 30 cm và tầng Ðịa cách mặt đất 1m6. Tầng trên cùng hình tròn gọi là tầng Thiên hay Viên đàn cách mặt đất 2m4. Màu sắc của mỗi tầng cũng khác nhau, được quét vôi theo lối Thiên thanh Ðịa hoàng, nghĩa là tầng Ðịa được quét vôi màu vàng và tầng Thiên được quét vôi màu xanh. Nền của mỗi tầng được lát bằng những gạch đỏ. Trong dịp Ðại Lễ 13-15/8/98 sắp đến, tầng Thiên là nơi để bàn thờ và chỗ ngồi của các giám mục còn tầng Ðịa là vị trí của các cha đồng tế.

Lên xuống Lễ Ðài là 4 cầu thang của mỗi tầng hướng ra 4 phía Ðông, Tây, Nam, Bắc. Dọc theo hai bên những cầu thang này là những hình khắc con rồng phủ phục. Quanh mỗi tầng Thiên và Ðịa có những trụ đèn nhỏ: 12 ngọn cho tầng Thiên và 24 ngọn cho tầng Ðịa. Trên Lễ Ðài có 9 cái lọng, đường kính 7m, làm bằng khung sắt cứng có thể chịu được sức gió 100 km/giờ: 4 cái phủ vải vàng ở tầng Ðịa (cao cách mặt đất 6m2), và 5 cái phủ vải xanh ở tầng Thiên trong đó 4 cái chung quanh cao cách mặt đất 9m2 và một cái ở giữa 11m8 có hàn một cây thánh giá, vừa là biểu tượng của Kitô giáo vừa có tác dụng như một kim thu lôi nối với chân lọng xuống dưới đất.

Vì đã gần đến giờ lễ (10 giờ), tôi rảo bước lại Linh Ðài Ðức Mẹ. Dưới tàng cây đa bằng bê tông, tượng Ðức Mẹ vẫn đứng đó tiếp tục hiện diện với đoàn con Việt qua bao cơn thăng trầm của đất nước. Trên bàn thờ dưới chân tượng là một dãy những canh nhựa đủ loại, đủ cỡ chứa đầy nước mà lát nữa đây sẽ được một vị linh mục làm phép trước khi được khách hành hương đưa về nhà dùng. Xuống mấy bậc thang bên phải của Linh Ðài là một bàn thờ đã được bày sẵn hoa nến chuẩn bị cho Thánh Lễ sáng cho khách hành hương kẻ đứng người ngồi hiện cũng đang qui tụ gần đấy. Kể từ ngày khai mạc Năm Toàn Xá vào ngày 1/1/1998, hằng ngày đều có phái đoàn hành hương cả Bắc lẫn Nam đến đây để tạ ơn và xin ơn Ðức Mẹ La Vang cũng như để lãnh nhận ơn Toàn xá. Nhưng đặc biệt kể từ tháng 6 trở đi, con số khách hành hương tăng vọt, trung bình mỗi ngày đều có từ 200-300 người. Vài ngày trước khi tôi đến, có một phái đoàn hành hương từ Giáo phận Vinh lên đến cả ngàn người, trong đó có cả một đội kèn tây. Vì lúc đầu chính quyền chỉ cho phép Ðại Hội La Vang năm nay được tiến hành trên qui mô Giáo phận Huế, những giáo hữu từ các giáo phận xa xôi đã lũ lượt thay phiên nhau đi hành hương sớm hơn ngày Ðại Hội chính thức (13-15/8/98). Những nhà thờ hay Ðại Chủng viện ở Nha Trang, Qui Nhơn, Ðà Nẵng, hay Huế trở thành những trạm nghỉ chân của những phái đoàn này.

Thường mỗi phái đoàn hành hương đến La Vang ở lại một ngày một đêm. Buổi sáng, giáo dân có thể đến xưng tội với các cha. Giáo phận Huế đã cố gắng cung cấp từ 2 đến 3 cha mỗi ngày để giúp khách hành hương hoà giải với Thiên Chúa bắt đầu từ 9 giờ sáng. Sau đó là Thánh lễ ở bàn thờ dưới chân Linh Ðài lúc 10 giờ có ban ơn Toàn Xá. Sau Thánh Lễ vị linh mục chủ tế sẽ làm phép nước Ðức Mẹ do khách hành hương đặt ở Linh Ðài. Chiều đến, vào lúc 3 giờ chiều có cha ngồi toà tiếp tục giải tội . . . Tối đến từ 7 giờ đến 8 giờ là giờ tĩnh nguyện tại Linh Ðài Ðức Mẹ qua đó khách hành hương được hướng dẫn cầu nguyện và hát cho Mẹ. Dĩ nhiên, nếu ai ở lại đêm phải đăng ký tạm trú với chính quyền địa phương.

Thánh lễ 10 giờ chấm dứt thì trời càng trở nên nóng bức. Nhằm tránh cái nắng thiêu người cũng như để cầu nguyện, tôi quay lại nền Nhà Thờ La Vang cũ, đã thấy một nhóm phụ nữ lớn tuổi, không biết thuộc giáo phận nào, ngồi trên những chiếc ghế đẩu đặt gần bàn kiệu Ðức Mẹ La Vang sơn son thếp vàng để cầu nguyện chung với nhau. Nhà thờ mái ngói hay mái tôn đâu có gì quan trọng cho bằng là được đến với Mẹ, cầu nguyện cùng Mẹ.

Sau một lúc cầu nguyện, tôi đi đến Nhà Khách số 1 là một khu nhà 2 tầng vừa mới hoàn thành trong tháng 7 này. Gồm có 15 phòng, Nhà Khách số 1 hiện đang cho một số linh mục và nữ tu tạm trú nhưng vào 3 ngày Ðại Hội sẽ chỉ dành riêng cho các Giám mục. Gặp một nữ tu làm việc tại đây, tôi đưa cho chị số tiền mà một số giáo dân Việt Nam ở Mỹ nhờ tôi xin lễ và khấn cho họ tại Thánh Ðịa La Vang. Biết chúng tôi chưa ăn cơm, một chị nữ tu đề nghị với tôi và những người thân cùng đi xuống Nhà Khách số 2 cách đó vài trăm thước để ăn trưa. Ðúng ra, để được ăn tại Nhà Khách này, khách hành hương thường phải báo trước cả ngày để chuẩn bị. Có lẽ thấy tôi sợ làm phiền nên chị nữ tu khuyên tôi đừng lo, khoảng 15 phút là có thức ăn ngay. Thật ra tôi cũng không muốn ghé vào các quán cóc gần đấy để ăn vì bụi bặm cùng nắng nôi kinh khủng.

Thừa lúc chờ đợi cơm trưa, tôi đi vào tiệm bán đồ lưu niệm gần đấy. Ai ai đến La Vang cũng phải ghé mua đồ lưu niệm ít nhiều. Có đủ các tranh ảnh, băng nhạc đạo, áo thun, . . . với giá cả cũng không mắc lắm.Vừa trả tiền cho ít món đồ mới mua, tôi tình cờ gặp một linh mục quen biết vốn cũng có tham gia trong ban tổ chức của Ðại hội sắp đến. Ngài cho tôi biết, dù gặp nhiều khó khăn nhưng việc tổ chức cũng tạm ổn. Ban tổ chức đã có sẵn 2 máy phát điện chạy dầu 100 KVA và 25 KVA để có thể độc lập với dòng điện ngoài đường. Phần âm thanh đã được hợp đồng với một số người ở Sài Gòn. Áo lễ gồm 33 chiếc kim tuyến vàng cho các giám mục và 500 cho các linh mục đồng tế. Về y tế sẽ do nữ tu bác sĩ Dòng Con Ðức Mẹ Vô Nhiễm (Phú Xuân) chịu trách nhiệm với một trạm xá dã chiến. Riêng phần nhạc phụng vụ gồm có 3 ca đoàn; mỗi ca đoàn gồm 100 ca viên đại diện cho mỗi miền đất nước và phụ trách một ngày. Ngoài ra còn có những em trong đội múa sẽ trình diễn vào tối 14/8 do các nữ tu Dòng Phaolô giúp tập. Biết được những cố gắng nỗ lực của những người phụ trách tổ chức, cách riêng Giáo phận Huế, cho ngày Lễ Hội lớn nhất của Giáo hội Công Giáo trong hơn 20 chục năm nay, tôi thật sự thán phục tinh thần phục vụ vì Chúa và vì Mẹ của họ.

Trò chuyện một lúc, tôi tạm chia tay với vị linh mục rồi cuốc bộ trên con đường đất đến Nhà Khách số 2. Ðây là khu nhà 1 tầng với 100 giường kê sát nhau, đã được sửa chữa đầu năm 1998. Căn nhà khách được dự trù để đón tiếp các linh mục dự Ðại Hội. Chỉ với giá bình dân 5000 đồng VN (40 xu Mỹ) mà khách ăn có được 3 món đàng hoàng lại ngồi trong nhà thoáng mát và sạch sẽ. Ăn uống xong thì đã hơn 1 giờ chiều rồi. Ðược biết chiều nay sẽ có Ðức Tổng Giám mục Nguyễn Như Thể từ Huế ra dâng Thánh Lễ cùng với 50 linh mục đồng tế để cầu nguyện cho công cuộc chuẩn bị Ðại Hội sắp đến. Ngài cũng sẽ họp với các linh mục trong Ban Tổ chức và duyệt toàn bộ chương trình múa cung đình và diễn nguyện trong ngày Ðại Hội. Rất tiếc, tôi không thể ở lại đây hết ngày để tham dự những biến cố này và vào 3 ngày Ðại Hội chính thức, tôi sẽ không có mặt vì bận chuẩn bị hành lý để trở về Hoa Kỳ. Nhưng dù chỉ đến với La Vang trong vài tiếng đồng hồ, tôi cảm thấy thoả lòng phần nào. Sau 28 năm dài xa cách, tôi đã trở lại La Vang với tuổi đời không còn trẻ nhưng tâm tình của tôi đối với Mẹ La Vang năm nao vẫn còn đấy, vẫn muốn được nép mình trong cánh tay dịu hiền của Mẹ, vẫn cần lời Mẹ an ủi vỗ về.

Trên con đường nhựa chạy trong Linh Ðịa La Vang để ra trở lại quốc lộ 1 hướng về Huế, tôi đã gọi người tài xế dừng lại 2 lần để tôi cố chụp lấy vài tấm hình nữa. Tôi không biết lúc nào sẽ có dịp trở lại La Vang lần nữa nhưng hy vọng rằng khi tôi trở lại, một ngôi thánh đường mới đẹp đẽ hơn, khang trang hơn dành cho Mẹ sẽ được dựng lên trên nền cũ của ngôi thánh đường đổ nát hôm nay. Nhưng có lẽ điều quan trọng nhất mà Mẹ muốn nhắn nhủ với tôi hôm nay là hãy học theo Mẹ, hãy sống theo tinh thần của Mẹ bằng một lòng phó thác và trung thành với Thiên Chúa.

Lạy Mẹ La Vang, xin hẹn gặp lại Mẹ vào một ngày gần đây.

(Trích NS Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp số 146)