Lời Tạ Ơn Mẹ

Thu Vân

Bài này được viết như lời chia xẻ với quý bạn đọc về một trong những ơn lành hồn xác mà Mẹ Maria đã ban cho tôi từ trước đến nay. Câu chuyện dưới đây xảy ra vào những năm tháng tăm tối nhất của cuộc đời tôi tại Việt Nam:

Trời bắt đầu chuyển sang mùa lạnh với những cơn gió bấc rét buốt tê tái cả thịt da. Mùa lạnh ở miền Trung Việt Nam đất cày lên sỏi đá thường bắt đầu bằng những cơn mưa phùn rả rích, tỉ tê, dai dẳng kéo dài từ ngày này sang ngày khác. Bầu trời mây giăng xám xịt nặng chĩu u buồn không một tia nắng. Cây cối ủ rũ khô héo chỉ còn trơ những nhành khẳng khiu, trơ trọi không một chiếc lá. Biển thường động nặng vì những cơn sóng lớn ngoài khơi Thái Bình Dương tràn vào bờ. Thực phẩm trở nên khan hiếm và đắt đỏ vào những mùa lạnh như vậy. Rau qủa cũng không lớn lên được, phần lớn chết héo theo cái lạnh triền miên không biết xót thương đến người dân nghèo ấy. Cảnh vật trông rất buồn bã và u sầu. Ðời sống con người cũng chẳng khá hơn tí nào, cuộc sống rất não nùng và thê lương.

Nhưng thê lương và đau khổ hơn nữa là cảnh sống của gia đình chúng tôi. Một gia đình chỉ bao gồm một người Mẹ rất yếu đuối về cả thể xác lẫn tinh thần cộng với 8 đứa con dại nheo nhóc không cha. Cha tôi lúc đó đang bị cầm tù trong các trại cải tạo tại những vùng rừng núi hiểm trở ở miền Bắc Việt Nam. Sự bắt bớ, tù đày của cha tôi mà chính quyền Cộng Sản thường dùng những từ hoa mỹ để che đậy là "học tập cải tạo" đó chỉ dành cho những sĩ quan, viên chức trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa trước ngày 30.4.1975. Tất cả tài sản của gia đình chúng tôi bị chính quyền tịch thu sạch sẽ, kể cả nhà cửa, xe cộ, tiền bạc trong ngân hàng... Chúng tôi lúc đó chỉ là những đứa trẻ con, đứa nhỏ nhất chưa đầy 2 tuổi. Cả gia đình một mẹ 8 con ấy chỉ còn lại những bàn tay trắng, bơ vơ giữa chợ đời không nơi nương tựa, không cha, không biết phải làm gì để có thể sống qua ngày. Ðám trẻ con chúng tôi suốt ngày chỉ biết khóc vì đói cơm, vì không có sữa để uống, vì thiếu quần áo che thân cho đủ ấm, vì không đủ chăn mền để có thể chống cự với cái giá rét của miền Trung Việt Nam.

Trong suốt quãng thời gian mười mấy năm dài ấy, gia đình chúng tôi phải sống tại một cái xóm ổ chuột ở trung tâm thành phố. Cái xóm nghèo này được mệnh danh là xóm rác trong cả hai nghĩa đen và bóng. Nghĩa đen là vì ngay trước con hẻm dẫn vào xóm là một đống rác to tổ bố. Ðống rác này rất hôi thúi, ruồi nhặng đầy dẫy, muỗi tụ tập đủ loại lớn nhỏ, dòi bọ lúc nhúc, chuột rúc rích suốt ngày đêm, dán cánh lớn cánh bé bay vèo vèo không khi nào yên. Nghĩa bóng là vì phần lớn những người dân sống ở trong cái xóm chật chội đó là thành phần rác rưởi, cặn bã của xã hội như: trộm cắp, móc túi, xì ke, ma túy, cô đồng, cô bóng chuyên gọi hồn ma về... Chỉ có một số rất ít là người dân đàng hoàng, lương thiện mà thôi.

Nhà cửa ở trong xóm là những căn nhà bé tí teo như những chiếc hộp diêm. Vách tường của những căn nhà ấy được làm sơ sài bằng những mảnh ván nhỏ ghép lại với nhau. Mái nhà là những miếng tol bằng kim loại rất dễ bị thủng nhiều lỗ vì rỉ sét. Chính những kẻ hở của bức tường ván vá víu ấy nên những tiếng nói chuyện hay chửi rủa có thể vọng từ nhà người này sang nhà người khác một cách dễ dàng, mặc dầu giữa đêm khuya hay giờ giấc nào đi chăng nữa, người ta chẳng tôn trọng nhau và cũng không tôn trọng chính bản thân mình.

Vào mùa nắng thì căn nhà hộp diêm ấy nóng bức như một cái lò nướng bánh. Năng lượng của ánh sáng mặt trời ở vùng cận nhiệt đới được dẫn truyền trực tiếp từ mái nhà bằng kim loại nóng như thiêu đốt cả da thịt. Suốt ngày mồ hôi tuôn ra như tắm và cặp mắt thường bị hoa lên vì đôi khi nhiệt độ lên đến hơn 100 độ F. Vào những ngày trời mưa thì nước trút xuống trên đầu không thương tiếc từ những lỗ thủng của mái nhà rỉ sét ấy, cộng thêm với nước cống thường sình lên rất hôi thúi. Những hôm như vậy thì nước mưa, nước cống hòa lẫn với nhau chảy lai láng cả nền nhà. Những ngày gió bấc thổi về thì rét run cầm cập vì những ngọn gió lạnh tê tái lùa vào kẻ hở của những bức tường ván vá víu và từ hai chiếc cửa sổ không có cánh cửa để đóng lại.

Chính cuộc sống thiếu thốn, cơ cực ấy đã dẫn đưa chúng tôi đến bệnh hoạn. Chúng tôi thường mắc những bệnh do suy dinh dưỡng như bệnh thời khí, bệnh ghẻ lở, ung nhọt ngoài da. Nhiều hôm ngứa ngáy, đau ốm qúa nên chúng tôi không ngủ được vì thuốc men chẳng có gì cả ngoài nước muối, gừng, tỏi ... Tôi là đứa con ốm yếu nhất trong gia đình nên thường bệnh hoạn liên miên. Tuy vậy gia đình chúng tôi không bao giờ bỏ tham dự thánh lễ một ngày nào cả. Buổi tối chúng tôi thường đọc kinh chung gia đình và lần hạt. Bài hát có ý nghĩa nhất đối với chúng tôi trong thời kỳ ấy là:

"Lạy Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Ðồng Trinh
Ðoàn con chung tiếng hát, dâng tấm lòng, dâng đời sống ..."

Thật đúng như vậy, chúng tôi dâng tất cả sự đau khổ tận đáy lòng ấy cho Mẹ Maria. Mẹ Maria nhân từ đã cứu thoát và gìn giữ chúng tôi qua khỏi quãng đời đầy sóng gió, cạm bẫy lúc bấy giờ bằng kinh mân côi. Chúng tôi lần hạt mân côi hằng ngày, Mẹ tôi tuy yếu đuối nhưng rất đạo đức đã hướng dẫn chúng tôi lần hạt mân côi. Cho đến bây giờ tuy đang sống trong một xã hội sung túc và rất bận rộn nhưng Mẹ tôi và tôi vẫn lần hạt đều đặn hàng ngày.

Có một thời gian tôi ngã bệnh rất nặng. Căn bệnh này phát sinh một phần do thể lực của tôi yếu kém, một phần vì thiếu dinh dưỡng, một phần do điều kiện sống qúa tồi tệ, một phần do căn bệnh hen suyễn kinh niên tôi đã mang theo từ lúc lọt lòng mẹ. Suốt mấy tháng trời tôi không thở được bằng mũi, phải há miệng thật lớn để nuốt không khí vì những cơn đàm chận lại trong cuống phổi và thanh quản. Mỗi hơi thở là một sự co thắt đau buốt trong lòng ngực, nhức nhối không tả xiết. Cả ngày, cả đêm tôi chỉ ngồi tựa vào vách tường ván để thoi thóp thở vì không nằm xuống được. Nếu tôi mệt lả ngả lưng nằm xuống thì sẽ phải bật dậy ngay vì ngộp thở. Dần dần tôi bị kiệt sức, thân hình chỉ còn da bọc xương vì không ăn cũng chẳng uống hoặc ngủ được. Bất kỳ cái gì đưa vào miệng cũng ói mửa ra cả. Tay tôi yếu đến độ không cầm được ly nước để uống và khi đi phải vịn vào một vật gì đó để đi hoặc Mẹ tôi phải dìu tôi bước.

Trong thời gian bệnh ngặt nghèo ấy, Mẹ tôi chỉ đủ tiền mua những viên thuốc nam của "Cách Mạng" cho tôi uống nhưng chẳng nhằm nhò gì cả, tiền mất nhưng tật vẫn mang theo. Tôi gục đầu xuống cả mấy tháng trời và chỉ đọc được những kinh Kính mừng vì tay tôi không thể nắm vững cái tràng hạt, chiếc tràng hạt thường bị tuột khỏi tay lúc nào không hay. Mẹ tôi thỉnh thoảng thức dậy nửa đêm để xem tình trạng của tôi ra sao vì Mẹ tôi sợ tôi chết bất ngờ.

"Kính mừng Maria đầy ơn phước Ðức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ.

Thánh Maria Ðức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử. Amen."

Câu kinh Kính mừng thân thương tôi đọc lúc đó có ý nghĩa đối với tôi hơn bao giờ hết. Vì bấy giờ tôi đang ở trong giờ lâm tử. Không một ai hay một tạo vật nào trên thế gian này có thể mang lại cho tôi sự bình an, trông cậy bằng kinh của Mẹ Maria. Tôi chỉ biết đọc kinh Kính mừng suốt trong quãng thời gian bệnh ngặt nghèo ấy vì đó là niềm hy vọng duy nhất của tôi.

Có những người quen mách cho Mẹ tôi rằng Ðức Mẹ Bình Triệu tại Saì Gòn rất linh thiêng, ai khấn xin gì cũng được hết. Mẹ tôi muốn đến Bình Triệu để khấn cho tôi được lành bệnh nhưng không có đủ tiền để đi xe hay tau lửa vào Saì Gòn. Lúc ấy, Ba tôi đã được chuyển trại từ Bắc vào Nam nên Mẹ tôi bèn đi vay mượn một số tiền để đi thăm nuôi Ba tôi tại Bình Thuận, nhân tiện vào Saì Gòn khấn Ðức Mẹ Bình Triệu cho tôi luôn thể.

Tôi vẫn tiếp tục thoi thóp thở suốt ngày suốt đêm trong lúc Mẹ tôi đi xa nhà. Chỉ mấy ngày sau khi Mẹ tôi rời nhà, một hôm bỗng dưng tôi cảm thấy có một luồng năng lực phát sinh trong người tôi rất kỳ lạ. Tự nhiên tôi cảm thấy khỏe hẳn lại., tay tôi có thể cầm chiếc tràng hạt vững vàng. Tôi bắt đầu cầm thử ly nước để uống và cái ly nước không hề bị tuột khỏi tay như trước kia, tôi uống nước thoải mái không còn bị ói mửa nữa. Tôi bắt đầu bước đi và rất lạ lùng là tôi có thể đi mà không cần vịn vào một vật gì cả.

Vậy là tôi bắt đầu bình phục từ hôm ấy. Tôi ghi xuống quyển sổ tay cái ngày kỳ diệu đó để chờ lúc Mẹ tôi về báo tin vui này. Mấy ngày sau Mẹ tôi về nhà bình yên và cái ngày tôi bình phục chính là ngày Mẹ tôi đã khấn tại nhà thờ Bình Triệu.

Tuy rằng câu chuyện này đã xảy ra cách đây khá lâu nhưng suốt đời tôi sẽ không bao giờ quên được. Ðối với tôi, một ngàn lần dâng lời tạ ơn Mẹ cũng không đủ để bày tỏ lòng biết ơn sâu xa nhất. Mẹ Maria rất tuyệt vời! Không những Mẹ sẵn sàng cứu giúp chúng ta trong những khi khốn đốn mà Mẹ sẽ dẫn đưa chúng ta đến với người con chí thánh của Mẹ bằng lời kinh Mân côi huyền diệu.

Cleveland 2004

(Trích "Hồng Ân Thiên Chúa" Nguyệt San Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp)