Lòng sùng kính Ðức Mẹ của giáo dân Việt Nam

Sh. Trần Công Lao

Việc sùng kính Ðức Mẹ, bắt nguồn từ thời các thánh Tông đồ (1), được phổ quát trong Giáo Hội Công giáo. Hằng năm theo chu kỳ phụng vụ, khi cử hành các Mầu nhiệm Chúa Kitô, Giáo Hội đã dành cho Mẹ sự "tôn kính chính đáng bằng một phụng tự đặc biệt" (2), những "kinh nguyện" và nhất là kinh Mân Côi được xem như là "Bản tóm tắt toàn bộ Phúc Âm" (3).

Quả thế, bao lâu Tin Mừng của Chúa còn được rao truyền trên trái đất, bấy lâu sự tôn sùng Ðức Mẹ vẫn luôn được cổ võ. Vì chính vai trò đặc biệt của Mẹ nằm trong kế đồ cứu độ, "không đời nào phân tách Chúa Giêsu ra khỏi Ðức Mẹ được" (4) và muốn "đến cùng Chúa Giêsu phải qua tay Ðức Mẹ" đã.

Ðối với giáo dân Việt Nam, hình như có một năng lực tự nhiên tiềm ẩn nào đó đã khiến lòng sùng kính mến yêu Ðức Mẹ nơi họ biểu lộ một cách đậm đà rõ nét, ta thử tìm hiểu xem, trước khi đề cập đến vấn đề sùng kính Ðức Mẹ cách chân chính.

I. Lối sống đạo của giáo dân Việt Nam

Nhiều giáo dân Việt Nam, sau thời gian sống ở ngoại quốc, hay cho rằng các tín hữu Âu Mỹ sống đạo có vẻ "khô khan" (dĩ nhiên, chỉ thấy bên ngoài) khi nhớ lại tại các họ đạo, nhất là ở miền quê Việt Nam, ngày Chúa Nhật và lễ trọng, các tín hữu đủ mọi thành phần lứa tuổi đều đi lễ đông đảo.

Hằng ngày, trong các gia đình đều có tập quán đọc kinh sáng tối. Mỗi khi nghe chuông nhật-một thì dù ở đâu, họ cũng làm dấu, đọc kinh Truyền Tin. Ðặc biệt là vào tháng Ðức Bà, phần đông các giáo xứ đều tổ chức dâng hoa, đọc kinh tối chung tại nhà thờ. Họ nào có thành lập "Hội Tràng Hạt Mân Côi" (5) lại còn rước kiệu trọng thể, các họ láng giềng đều nô nức về tham dự đại hội, với cờ quạt trống kèn.

1) Nguyên nhân lòng sùng kính:

Không ai chối cãi, giáo dân Việt Nam có lòng yêu mến Ðức Mẹ khá đậm đà, thiết tưởng do nhiều nguyên nhân đã cấu tạo nên tâm tình đó, khiến họ đón nhận dễ dàng và tự nhiên những gì liên quan đến việc tôn kính Mẹ.

a. Những yếu tố nội tại: đã có sẵn trước khi ánh sáng Phúc Âm dọi tới.

* Kể từ thời khai nguyên lập quốc, người Việt Nam đã có tinh thần tôn trọng nữ quyền. Người phụ nữ Việt Nam không bị lép vế như phụ nữ trong các nước thuộc khối Viễn Ðông. Ca dao phát xuất trung thực từ tâm trạng người bình dân chất phác, đã chứng minh điều đó.

"Lạy cha ba lạy một quỳ,
Lạy mẹ bốn lạy con đi lấy chồng".

"Ba lạy" chỉ lòng tôn kính đấng sinh thành, "một quỳ" chỉ uy quyền của cha.

"Bốn lạy" chỉ sự vâng phục trọn vẹn, vì mẹ là gia chủ, theo ý nghĩa mẹ ở nhà nhiều hơn cha.

"Lấy chồng" cũng là một từ mang ý nghĩa nữ quyền.

Không phải chỉ có đàn ông "lấy vợ" mà người con gái cũng "lấy chồng", tức cũng có quyền chọn lựa (6). Nhưng từ "mẫu thân", "nội tướng", "nội gia" đều chỉ mẫu quyền của mẹ.

* Mặt khác, trong thời kỳ Bắc thuộc, dân ta đã hấp thụ nền lễ giáo Khổng Mạnh, lòng tôn kính và hiếu thảo với Mẹ Cha được đặt lên hàng đầu, được xem là một thứ đạo: đạo Hiếu!

"Một lòng thờ Mẹ kính Cha,
Cho trọn chữ hiếu mới là đạo con"

(Ca dao)

Hoặc:

"Chữ hiếu niệm cho tròn một tiết,
Thì suy ra trăm nết đều nên"

(Gia Huấn Ca)

Hơn nữa, hình ảnh người mẹ, dù thuộc màu da hay tiếng nói nào, bao giờ cũng khơi dậy lên trong tâm trí mọi người những kỷ niệm êm đềm, đầy yêu thương và che chở.

b. Những yếu tố ngoại tại mới, từ khi Tin Mừng được rao giảng.

Các nhà truyền giáo khi đến Việt Nam, có lẽ đã tìm ra "bản sắc mẫu tính" nơi tâm lý và văn hóa người địa phương, nên đã áp dụng phương pháp "Nhờ Mẹ Maria đến với Chúa Giêsu (7) vào tâm lý người Việt tôn trọng phụ nữ và vào văn hóa đề cao vai trò người mẹ trong gia đình. Áp dụng hình ảnh Ðức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, như là người mẹ hiền của dân tộc.

"Cứ mỗi lần sau khi dạy giáo lý xong, các vị truyền giáo lại dẫn tân tòng đến trước ảnh Ðức Mẹ bồng Chúa Giêsu để họ quỳ lạy Chúa Ba Ngôi ba lạy sát đất, rồi lạy Ðức Mẹ là Ðấng bầu cử thần thế cùng Chúa Giêsu, con của Mẹ" (8).

Phần đông các vị truyền giáo đầu tiên thuộc hội dòng có truyền thống những hình thức tôn sùng Ðức Mẹ như dòng Ða Minh tôn kính Mẹ Mân Côi, hội Thừa Sai Ba-lê tôn kính Mẹ Lộ Ðức. Ðầu thế kỷ 20, ảnh Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp cũng đã được đưa vào Việt Nam do một thừa sai người Pháp. Từ năm 1925 trở đi, lòng sùng kính bắt đầu phát triển nhờ các tuần Ðại phúc.

2. Biểu lộ tình mến Mẹ:

Với ba yếu tố nội tại nói trên, tâm hồn người tân tòng dường như đã được chuẩn bị, nên khi họ đón nhận ánh sáng Tin Mừng cứu rỗi, tôn thờ một Chúa Ba Ngôi thì cũng đã dễ dàng đem lòng sùng kính mến yêu Ðức Mẹ như những đứa con hiếu thảo.

a. Các Thánh Tử Ðạo:

Những đứa con hiếu thảo hơn hết, trước tiên là các Thánh Tử Ðạo!

Trong 96 vị Thánh Tử Ðạo Việt Nam, nhiều đấng rất có lòng kính mến Ðức Mẹ như thánh Ðinh Viết Dụ, Nguyễn Văn Hạnh, Lê Thị Thành, Tống Viết Bường, Nguyễn Kim Thuông, Ðoàn Trinh Hoan, Vũ Ðăng Khoa, Nguyễn Thế Ðiểm, Phạm Hiếu Liêm, Phan Văn Minh...

Ðặc biệt là cha thánh Lê Bảo Tịnh, ngài thường dạy:

"Có hai điều phải lo trước tiên: Một là kính mến Ðức Chúa Trời hai là kính mến Ðức Mẹ. Vì ai kính mến Ðức Mẹ thật lòng thì Người sẽ soi sáng cho biết cách kính mến Ðức Chúa Trời" (9).

b. Từ Bắc chí Nam:

Giáo hữu khắp 3 miền xây cất nhiều nhà thờ; thành lập nhiều phong trào, tu hội: phát hành nhiều sách báo về Ðức Mẹ. Trong các thánh đường, dù ở thành thị hay thôn quê, bàn thờ Ðức Mẹ luôn được trang hoàng đẹp đẽ.

Tại mỗi gia đình, không phân biệt giàu nghèo, đều có chưng bày ảnh tượng Ðức Mẹ. Nhiều gia đình tôn phong Mẹ làm Nữ Vương, mỗi tối cùng nhau lần hạt. Có nơi lại tổ chức đọc "kinh liên gia". Nhiều người, trong những dịp rửa tội, thêm sức, hôn phối... thì dâng mình cho Ðức Mẹ; nhất là các linh mục, tu sĩ nam nữ đều tận hiến cho Mẹ theo phương pháp thánh Grignion de Montfort.

Chúa Nhật cũng như ngày thường, tại các trung tâm hành hương như ở Thái Hà Ấp (Hà Nội), Phú Nhai (Bùi Chu), La Vang (Quảng Trị) (10), Trà Kiệu (Quảng Nam), Bình Triệu (Thủ Ðức), Bãi Dâu (Vũng Tàu), Bến Tre (Vĩnh Long) bao giờ cũng có các giáo hữu, ngay cả những người bên lương đều lui tới cầu xin khấn vái!

Làm sao quên được những kỳ Ðại hội La Vang (11), Ðại hội Thánh mẫu Sài Gòn năm 1959? Những cuộc cung nghinh tượng Fatima thánh du vào những năm từ 1965 đến 1975? Những chiều thứ bảy tại các đền thờ Ðức Bà Hằng Cứu Giúp ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn?

Làm sao quên được hình ảnh người thiếu phụ di cư, từ miền Bắc vào Nam, năm 1954 tại phi trường Gia Lâm (gần Hà Nội)?

Với một gánh nặng trên vai, tay phải cố giữ đòn gánh, tay còn lại bà cầm chặt bức ảnh Ðức Bà Hằng Cứu Giúp bước vội ra máy bay, trước sự thán phục của các nhà báo ngoại quốc!

Làm sao quên được hình ảnh người tù binh Cộng Hòa năm 1972 tại dòng sông Thạch Hãn (Quảng Trị), ranh giới trao đổi tù binh?

Một người lính Cộng Hòa, sau khi đã cùng với các bạn tù, vất bỏ lại bên bờ Bắc, phía cộng sản, mọi hành lý và ngay cả áo quần đang mặc, nhất loạt bơi qua bờ Nam, phía quốc gia. Khi ra giữa dòng sông, anh đột nhiên bơi trở lui bờ Bắc. Việt cộng ở trên bờ reo hò mừng rỡ, vì anh trở lại theo Bác và Ðảng!

Nhưng khi vừa tới bờ Bắc, anh vội vàng lục lọi trong túi áo sơ-mi anh đã vất bỏ lại, lấy ra một cỗ tràng hạt, mang vào cổ, rồi thản nhiên bơi về phía Nam!

Làm sao quên được hình ảnh bà Trương Thị Hoa di tản ra ngoại quốc vào cuối tháng tư năm 1975?

Trên chuyến bay cuối cùng chở người tị nạn sắp cất cánh tại phi trường Tân Sơn Nhất (Sài Gòn), bà Hoa không đem theo gì khác ngoài chiếc rương gỗ đựng pho tượng Ðức Mẹ bồng Chúa Hài Ðồng! Dù năn nỉ cách mấy, người ta cũng không cho bà đem pho tượng vào phi cơ! Bà buồn rầu bước lên máy bay trong cảnh chen lấn giành giật. Chẳng may, bà bị trượt chân ngã, đứt mạch máu và hấp hối...

Trước khi tắt thở, bà trối với người con: "Con hãy cố xin người ta cho pho tượng Ðức Mẹ đi, và nhờ Mẹ để xây dựng lại cuộc đời. Còn mẹ, mẹ sẽ ở lại và chết trên quê hương".

Pho tượng đã bay sang Hoa Kỳ, được cung nghinh đi nhiều nơi. Hàng giáo sĩ đặt tên là pho tượng Ðức Mẹ Việt Nam Di Cư. Hiện nay được tôn kính tại Louisiana.

II. Lòng sùng kính chân chính

Nhìn chung, lòng sùng kính Ðức Mẹ nơi giáo dân Việt Nam thường được biểu lộ khá đậm đà gắn bó, nhưng lại có tính cách bộc phát hơn là suy luận.

Công đồng Vatican II đã dạy rằng: "Việc sùng kính Ðức Maria không chỉ nguyên căn cứ vào tình cảm, nhưng phải được hướng dẫn theo lý trí. Mỗi Kitô hữu, tùy theo khả năng và hoàn cảnh, phải tìm hiểu sâu rộng địa vị của Ðức Mẹ trong chương trình cứu độ, để noi theo đời sống và các nhân đức của Ngài" (12).

Vì thế, ta nên kiểm soát lại vấn đề sùng kính, để khỏi bị rơi vào tình trạng lệch lạc, đồng thời chân chính hóa truyền thống mến Mẹ của ta.

1) Vấn đề thờ phượng và sùng kính

Sự thờ phượng (adoration), ngôn ngữ thần học gọi là Culte de latrie (tôn thờ), đặc biệt dành cho một mình Thiên Chúa Ba Ngôi. Còn sự sùng kính (vénération), danh từ thần học là Culte de dulie (tôn kính), dành cho các thiên thần, các thánh, di hài các thánh và ảnh tượng.

Ðức Mẹ được tôn kính cách đặc biệt, danh từ thần học gọi là Culte d'hyperdulie (biệt tôn, biệt sùng).

a. Thờ phượng (tôn thờ)

Như vậy, đối tượng của việc thờ phượng là Chúa Ba Ngôi.

Trong 10 điều răn Chúa truyền, điều thứ nhất dạy phải "thờ phượng một Ðức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự". Chính Chúa Giêsu đã phán rõ: "Phải thờ lạy Chúa là Thiên Chúa ngươi và chỉ phụng sự một mình Ngài mà thôi" (13). Vì Ngài là Cha, đã tạo dựng và gìn giữ chúng ta cũng như trời đất muôn vật. Cho nên "mọi chúc tụng và vinh quang đều qui về Thiên Chúa toàn năng đến muôn đời." (14).

Nói khác, việc tôn thờ Chúa phải là tiên nhất và duy nhất.

b. Sùng kính (tôn kính)

Còn đối tượng của việc sùng kính là các Thiên thần, các Thánh, đặc biệt là Mẹ Maria.

Ðối với Ðức Mẹ, ta không được thờ phượng, vì Mẹ cũng chỉ là thụ tạo như chúng ta. Nhưng ta phải đặc biệt tôn kính Mẹ, vì Mẹ là "Mẹ Thiên Chúa" (15) và cũng là "Mẹ loài người" (16).

Chúng ta biệt sùng Mẹ, vì sự thánh thiện của Mẹ. Nhưng sự thánh thiện Mẹ có được là nhờ lòng nhân lành và quyền năng của Chúa. Do đó, tuy trực tiếp ta biệt tôn Mẹ, nhưng gián tiếp và rốt cuộc, vẫn là tôn kính chính sự nhân lành và quyền năng của Chúa. Phải xác định rõ điều ấy để việc "tôn kính" Ðức Mẹ không trở nên việc "tôn thờ" là việc chỉ dành cho một mình Thiên Chúa, như đã nói trên.

Ta luôn nhớ rằng: việc biệt sùng Ðức Mẹ, phải được đặt vào trong mối tương quan giữa Ðức Mẹ với các thực tại trung tâm của ơn cứu rỗi, là Chúa Giêsu và Giáo Hội.

2. Việc sùng kính chân chính

Việc biệt sùng Mẹ, không như số người nhẹ dạ dễ tin, hoặc bằng tình cảm phù phiếm, chóng qua, đạo đức giả và vụ lợi, nhưng "phát sinh từ một đức tin chân thật, dẫn đưa ta đến chỗ nhìn nhận địa vị cao cả của Mẹ Thiên Chúa, thúc đẩy ta lấy tình con thảo yêu mến và noi gương các nhân đức của Mẹ" (17).

Thánh Louis Grignion de Montfort, vị thánh đã hiến trọn cuộc đời để cổ võ lòng sùng kính Mẹ. Ngài đã "chiêm nghiệm đạo lý do các thánh Tông đồ truyền lưu qua môn đệ, giáo phụ, giáo dân và dựa vào cổ điển, di tích, lễ nghi suốt bao thế kỷ" (18) để viết cuốn "Sách Vàng" nói về "bí quyết nên thánh", đã giới thiệu cho chúng ta 5 cách thức sùng kính chân chính sau đây:

a. Sùng kính nội tâm

Là cách tôn kính thành thật tự trong đáy lòng phát ra hành động, chỉ vì Mẹ đáng kính đáng chuộng.

b. Sùng kính tha thiết

Là đầy lòng cậy trông, thân mật như người con thảo kính yêu Mẹ lành: Việc hồn việc xác, vui buồn sướng khổ, điều dở điều hay, bất cứ trường hợp nào xảy đến, đều tỏ bày và phó thác tất cả cho Mẹ.

c. Sùng kính thánh thiện

Là luôn giữ linh hồn sạch tội, thực thi các nhân đức của Mẹ: khiêm hạ sâu xa, vâng lời triệt để, tin mến vững vàng, cầu nguyện liên lỉ, khiết tịnh và khôn ngoan.

d. Sùng kính kiên tâm

Là cho dầu vật đổi sao dời, cuộc đời nhiều nỗi truân chuyên, vẫn luôn một dạ trung thành mến yêu, không phải vui thì làm buồn thì bỏ.

e. Sùng kính thanh liêm

Là không vì tư lợi, nhưng chỉ vì Mẹ đáng mến đáng yêu (19)

Sau hết, theo thánh nhân, lòng sùng kính chân chính phải đi đến tột đỉnh là tận hiến cho Mẹ, làm mọi việc "với Mẹ, trong Mẹ, nhờ mẹ và vì Mẹ". Dâng mình làm "nô lệ tình thương" của Mẹ, để nhờ Mẹ đưa ta đến cùng Chúa Giêsu.

Tóm lại

Việc tôn sùng Ðức Mẹ, vì có địa vị ưu đãi trong lòng Giáo Hội, nên mang hình thức bộc phát và dân gian. Do đó, một đôi khi có thể có những thái quá, trong trường hợp lẫn lộn giữa "tôn thờ" và "tôn kính", ta nên lưu ý.

Về lòng sùng kính Ðức Mẹ nơi người tín hữu Việt Nam, có thể nói, rất tốt đẹp. Chúng ta ở quốc nội hay ở hải ngoại, hãy luôn cố gắng duy trì và tăng tiến lòng sùng kính đã có truyền thống ấy. Vì sùng kính Mẹ chính neo phần rỗi!

Cả cuộc đời tại thế của Chúa: chịu thai, trưởng thành, dưỡng nuôi đều do Ðức Mẹ đảm nhận và chu tất. Nay trên thiên quốc, mọi quyền hành và ơn phúc Chúa đều phó thác cả trong tay Ðức Mẹ. Con vinh hiển làm vua trời đất, hẳn Mẹ cũng đường hoàng làm Nữ Vương thiên đàng. Con lấy bảo huyết rửa sạch tội nhân loại, Mẹ cũng đem lòng lân tuất mở cửa cho loài người được vào thiên cung" (20). Bởi đó, cũng như "ngoài danh thánh Chúa Cứu Thế chẳng ai được rỗi" (21) thì ngoài quyền hành Ðức Mẹ, không linh hồn nào được vào nơi cực lạc, như Hội Thánh hằng ca tụng "Mẹ là cửa thiên đàng" (22).

Các thầy Giáo lý đều công nhận Mẹ là gương mẫu phần phúc nhân loại và là "Ðấng phân phát mọi ơn lành" (23). Trong các ơn Chúa ban, Ơn Rỗi Linh Hồn là trọng đại và cần thiết nhất cho con cháu A-dong. Tuy ơn ấy, phải do công nghiệp vô cùng Con Một Chúa Cha; nhưng từ thuở đời đời Chúa đã định cho Ðức Maria làm Mẹ Chúa Giêsu Kitô. Thực sự, "Ngôi Hai đã xuống thế làm người" (24), nên Ðức Mẹ liên can rất chặt chẽ đến phần rỗi nhân loại; chính vì thế ta nhìn nhận Ðức Mẹ "như neo vững chắc của phần rỗi" (25).

Ðức Mẹ có toàn quyền đem lại phúc thanh nhàn cho những kẻ thật lòng cầu khẩn và trông cậy Người, như lời thánh Bonaventura quả quyết: "Sốt sắng sùng kính Ðức Mẹ là dấu Chúa ban phần rỗi cho ta" (26). Chính Mẹ "đầy ơn phúc" sẽ cứu lấy chúng ta "trong giờ lâm tử".

Ghi chú

(1) Ga 19,27 - Cv 1,14
(2) Xem Sacrosantum Concilium, 103
(3) Xem Marialis Cultus, 42
(4) Vén. Eymard, Mois de N.D. du T.S. Sacrement
(5) Xem Joseph Tarrès, Le culte de la Ste Vierge au Tonkin Oriental, Blois 1903
(6) Vũ Ðình Trác, Huyền Thoại trong công cuộc dựng nước, trang 12

(7) Trên bàn thờ của Linh Ðài Tứ Giác tại La Vang (1955) có ghi câu: "Nhờ Mẹ Maria đưa đến Chúa Giêsu".

(8) G. Audigou, MEP Maria, cuốn 4, trang 1003-1004(9) Vũ Thành, Dòng Máu Anh Hùng, tập 3, trang 146

(10) Trung Tâm Hành Hương toàn quốc theo quyết định HÐGM miền Nam năm 1961 và HÐGM Việt Nam ngày 1-5-1981.

(11) Lần 1 năm 1901, lần 2 năm 1904, lần 3 năm 1907, lần 4 năm 1910, lần 5 năm 1914, lần 6 năm 1917, lần 7 năm 1920, lần 8 năm 1923, lần 9 năm 1928, lần 10 năm 1932, lần 11 năm 1935, lần 12 năm 1938, lần 13 năm 1955, lần 14 năm 1958, lần 15 năm 1961, lần 16 năm 1964, lần 17 năm 1970, lần 18 năm 1978, lần 19 năm 1981, lần 20 năm 1984, lần 21 năm 1987, lần 22 năm 1990, lần 23 năm 1993, lần 24 năm 1996, lần 25 năm 1998 (Ðệ II BCN)

(12) Lumen Gentium 65, 66, 67
(13) Mt 4,10 cf Dt 6,13
(14) Lời kết của Kinh Nguyện thánh Thể
(15) CÐ. Ephêxô, năm 431
(16) Xem Ga 19,25-27
(17) Lumen Gentium 8, 67
(18) J. Millot, La Très Ste Vierge, 2 éd. page 27
(19) Recueil document, page 229
(20) S. Rupert, In Cant. 1,3
(21) Cv 4,12
(22) Kinh Cầu Ðức Bà
(23) Hugon, Tract. dogmat. II, page 793
(24) Ga 1, 14
(25) Dt 6, 19
(26) St. Bonavent, Comment in Ps. XLVIII