Ðức Maria, Mẹ Ðức Giêsu qua chứng từ Tân Ước

Lm. Lê Phú Hải OMI

Trong 27 cuốn sách kết thành bộ Tân ước, chúng ta cũng chỉ tìm thấy 5 văn bản nói về Ðức Maria. Những văn bản Tân ước cổ nhất như những thư Thánh Phaolô không thấy ghi gì về Ðức Maria, ngoài đoạn văn trong thư gửi tín hữu Ga-lát 4,4 : "Nhưng khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà...". Câu này không ghi tên gọi Maria, và cũng chỉ chủ ý nhắm nhấn mạnh điều Ðức Giêsu là người thật được sinh ra như mọi người chúng ta.

Trong cuốn sách cuối cùng của bộ Tân ước là sách Khải Huyền, nơi chương 12 chúng ta thấy có huyền kiến về "người phụ nữ mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng". Hình ảnh người phụ nữ trong đoạn văn này, theo truyền thống Khải huyền Do thái biểu tượng cộng đoàn Do thái cưu mang Ðấng Thiên sai. Rồi, chỉ rất lâu sau này, truyền thống Kitô giáo mới áp dụng hình ảnh người phụ nữ này cho Giáo Hội và Ðức Maria.

Vì thế, những sách Tân ước có nói về Ðức Maria chỉ tìm thấy trong sách Tin Mừng, tức là đức tin của những tín hữu thời sơ khai đặc biệt chú tâm vào mầu nhiệm chết và sống lại của Ðức Giêsu chứ không phải nơi sự khai sinh của Người.

1. Ðức Maria trong Tin Mừng thời thơ ấu Mát-thêu 1-2 và Lu-ca 1-2.

Hai thánh sử Mát-thêu và Lu-ca mở đầu cuốn Tin mừng bằng một Lời Ngỏ thần học nơi chương 1 và 2. Hai chương này được biên soạn với chủ đích mạc khải cho chúng ta biết trước Ðức Giêsu thành Na-da-rét là ai mà Giáo Hội tuyên xưng là Thiên Chúa.

A Mát-thêu 1-2.

Mát-thêu biên soạn chương 1-2 dựa vào năm lời trích dẫn từ Cựu ước hàm ý Ðức Giêsu chính là Ðấng mà các ngôn sứ đã loan báo. Ngài đến làm trọn lời Kinh Thánh: Trong trình thuật về Gia phả Chúa Giêsu Kitô (1,1-17), Giuse là người sau cùng trong tổng số 42 đi từ tổ phụ Abraham đến Chúa Kitô. Tác giả không ghi Giuse sinh Ðức Giêsu như các tổ phụ khác, nhưng nói Giuse là chồng của bà Maria, bà là mẹ Ðức Giêsu cũng gọi là Ðấng Kitô. Ðức Maria được trình bày có một tình huống đặc biệt trong dòng dõi các tổ phụ để Ðấng Kitô được gọi là con vua Ða Vít và là con cháu tổ phụ Abraham.

Trong đoạn Thiên sứ truyền tin cho Giuse (1,18-25), Mát-thêu khẳng định rõ ràng Ðức Maria thụ thai bởi Thánh Thần (1,19). Sau đó, tác giả viết khá dài về phản ứng của ông Giuse, về sứ điệp của Thiên sứ khuyến khích ông nhận Ðức Maria làm vợ. Thiên sứ cho Giuse thấy ông có một vai trò tích cực qua việc đặt tên cho con trẻ.

Mát-thêu không kể lại việc Ðức Giêsu sinh ra thế nào, nhưng tác giả lại nói về việc các nhà chiêm tinh đến bái lạy Ðức Giêsu hài nhi (2,1-12). Một điều lạ trong đoạn trình thuật là không thấy tác giả nói đến Giuse khi các nhà chiêm tinh đến, nhưng tác giả lại ghi rõ tên Ðức Maria (2,11); điều này gợi ý Ðức Maria thật sự được kết hiệp vào mầu nhiệm Ðức Giêsu.

Trong đoạn chạy trốn sang Ai cập (2,13-15 ), Mát-thêu không ghi tên Maria nhưng chỉ nói là "mẹ Người". Giuse giữ vai trò chủ động từ việc mang gia đình qua Ai cập (2,130, rồi sau này trở về (2,21) và định cư tại Na-da-rét thuộc miền Ga-li-lê-a.

Tóm lại, qua hai chương đầu cuốn sách, tác giả xác định vai trò làm mẹ và sự đồng trinh của Ðức Maria. Ðức Giêsu là con Ðức Maria nhưng đến từ Thiên Chúa. Ngài chính là Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

B. Lu-ca 1-2.

Lời ngỏ trong sách Tin mừng Lu-ca được biên soạn bằng hai trình thuật song song rất khoa học theo lối suy tư của người Ðông phương. Một phương cách không chỉ vạch rõ những khái niệm nhưng trình bày những thực tại trong điều thuật lại làm biểu lộ sự phong phú ẩn giấu. Các nhà chú giải đều nhấn mạnh đến cách thức văn chương song đối giữa những nguồn gốc của Ðức Giêsu và Gioan Tẩy giả cho dù những chi tiết có thể thay đổi đôi chút. Cách thức đối chiếu nơi Lu-ca 1-2 giữa Ðức Giêsu và ông Gio-an làm nổi bật tính đồng nhất hành động của Thiên Chúa, đồng thời đưa ra cái ưu thế cao cả của Ðức Giêsu đối với nhân vật Gio-an. Dù cả hai nhân vật đều được gọi là lớn : Gio-an lớn đối với những gì ông sẽ làm; riêng Ðức Giêsu lớn vì lẽ Người hiện hữu. Cách thức đối chiếu trong Lu-ca 1-2 không phải là một tương quan đối chọi nhưng là mối tương quan giữa thời gian hứa và thời gian hoàn thành.

Trình thuật truyền tin theo Lu-ca 1,26-38 trước hết là một văn bản mang rõ nét về Kitô học nhưng Ðức Maria có một vai trò thật quan trọng. Qua biến cố truyền tin Ðức Maria đã nhận ánh sáng thật cần thiết cho sứ mệnh của ngài. Ðó là mầu nhiệm vượt trên hết mọi ngôn ngữ, và sâu xa hơn nữa còn vượt trên mọi hiểu biết loài người. Dù bị đóng khung trong khung cảnh xã hội thời đó, Ðức Maria đã nhận lời Thiên Chúa đề nghị mà những hậu quả vượt ngay tất cả những gì ngài có thể tưởng tượng được. Ðức Maria nhận việc Thiên Chúa can thiệp giải phóng đầy ý thức và tự do. Ngài là mẫu gương của mọi kẻ tin.

Sau khi được Thiên sứ đến báo tin, Ðức Maria lên đường thăm viếng bà chị họ E-li-sa-bét (1,39-45). Khi vừa vào nhà chào thì con trẻ sắp sinh lại nhảy mừng trong dạ mẹ. E-li-sa-bét nhận ra rằng con bà cưu mang là đối tượng phúc lành của Thiên Chúa và bà đã tuyên xưng Ðức Maria là Mẹ của Chúa tôi. Lúc đó, Ðức Maria xướng lên bài ca Magnificat (1,46-56) chúc tụng Thiên Chúa. Lời chúc tụng cho ân sủng Maria đã nhận được, cũng như ân sủng cho toàn dân. Ân sủng làm cho Maria nên người có phúc chính là lòng tin của Ngài.

Sang đến trình thuật sinh hạ, Lu-ca đã diễn tả thật đơn sơ việc Ðức Giêsu được sinh ra (2,1-21). Ðiều kỳ diệu là cảnh mạc khải cho các mục đồng đang canh giữ đàn vật chung quanh vùng. Họ cũng đã được Thiên sứ đến loan báo tin mừng và vinh quang Thiên Chúa đã bao trùm họ. Những kẻ bị khinh bỉ nhất trong xã hội thời đó lại là những người đầu tiên được đón nhận mạc khải. Họ đã đến nơi Ðức Giêsu sinh ra và sau đó lại lên đường loan báo và tôn vinh Thiên Chúa. Tác giả Lu-ca ghi như sau "còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng". Nếu như trong ngày thăm viếng người chị họ, Ðức Maria làm bùng nổ đức tin qua bài Magnificat, giờ đây đức tin là chiêm ngắm và thinh lặng.

Ðúng theo lề luật Mô-sê, Ðức Giêsu đã được đưa vào đền thờ dâng hiến (2,22-40). Hôm nay không còn các cơ binh thần thánh tuyên xưng sự lớn lao của con trẻ nhưng chỉ là hai chứng nhân tầm thường mang niềm hy vọng cho It-ra-en. Ông già Simêon bồng con trẻ trong tay và chúc tụng Thiên Chúa vì mắt ông đã nhìn thấy ơn cứu độ, ánh sáng mạc khải cho dân ngoại và vinh quang It-ra-en. Giuse và Maria sửng sốt. Simêon cũng còn loan báo những đau khổ của Ðức Maria phải gặp sau này. Thảm kịch đã thấp thoáng. Ðoạn hai ông bà và con trẻ trở về Na-da-rét.

Khi lên 12 tuổi, Ðức Giêsu lại lên đền thờ lần thứ hai. Nếu lần trước Ðức Giêsu đã được mạc khải qua bài thánh ca và lời tiên tri của Simêon, thì giờ Ðức Giêsu tỏ bày sự khôn ngoan cho các tiến sĩ luật và cùng lúc nêu mối liên hệ của Người với Cha trên trời cho cha mẹ Người. Lần này Giuse và Maria lại ngạc nhiên thêm lần nữa và Lu-ca còn nhấn mạnh thêm "nhưng ông bà không hiểu lời Người vừa nói". Chúng ta cũng ngạc nhiên khi đọc thấy Ðức Maria không hiểu gì khi chính Ngài đã nhận được nhiều mạc khải từ Thiên sứ Gabriel, các mục tử, ông già Simêon... Thật vậy, ánh sáng trong ngày đến thăm viếng E-li-sa-bét dường như đã xa vời. Trong tiến trình đức tin, Ðức Maria cũng có những giai đoạn đi trong tăm tối như chúng ta. Thế nhưng, dù không hiểu nhưng Ðức Maria không bỏ cuộc. Khi trở về Na-da-rét, Ðức Maria lại lần nữa "ghi nhớ tất cả các điều ấy trong lòng".

2. Ðức Maria trong những trình thuật Nhất lãm.

Ngoài hai chương đầu ghi lại thời thơ ấu theo Tin Mừng Mát-thêu và Lu-ca, Tin Mừng Nhất Lãm còn nói đến Ðức Maria trong một số trình thuật mà chúng ta có thể tạm gom lại như sau :

A Gia đình thực sự của Ðức Giêsu.

Chúng ta có tất cả bốn đoạn văn nói về chủ đề gia đình thực sự của Chúa Giêsu được ghi lại trong Mát-thêu 12,46-50; Mác-cô 3,31-35; Lu-ca 8,19-21 và Luca 11,27-28. Cả bốn đoạn văn có ít nhiều chi tiết bổ túc cho nhau, ở đây chúng ta không đi vào chi tiết nhưng phải hiểu sao về ý nghĩa mẹ và anh em Ðức Giêsu. Trong những đoạn này, Ðức Giêsu nêu rõ ý Ngài liên đới với các môn đệ, với tất cả những kẻ thi hành ý muốn Thiên Chúa. Chúng ta không đọc thấy các nhà Nhất lãm nêu danh Ðức Maria nhưng các tác giả chỉ gọi là "mẹ" và kết hiệp ngài vào nhóm các "anh em".

B. Dân Na-da-rét biết gia đình Ðức Giêsu.

Có tất cả ba đoạn văn ghi lại trong Mát-thêu 13,55-56, Mác-cô 6,3 và (Gioan 6,42 = diễn từ về bánh trường sinh, không nêu danh Ðức Maria nhưng chỉ nói cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết...) và chuyện xảy ra tại Na-da-rét. Hôm ấy, Ðức Giêsu vào giảng dạy trong hội đường và mọi người đều ngạc nhiên : "Bởi đâu ông ta được như thế... ông ta không phải là bác thợ, con bà Maria, và anh em họ hàng với các ông Giacôbê... chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao ?". Theo hai tác giả Mác-cô và Mát-thêu, những người nghe Ðức Giêsu giảng dạy đều cho rằng ngài là con bà Maria. Và trong hai đoạn trên, Ðức Maria cũng được kết hiệp vào anh em của Ngài với đầy đủ tên, ngược lại các chị em thì không được nêu tên.

3. Ðức Maria trong Tin Mừng Gioan.

Thánh Gioan nói về Ðức Maria qua hai trình thuật : tiệc cưới Cana 2,1-12 và dưới chân Thập giá 19,25-27. Tiệc cưới Cana xảy ra vào ngày thứ bảy trong tuần lễ Ðức Giêsu khai mào sứ vụ. Tác giả không nêu ra danh tánh Ðức Maria, và ghi "trong tiệc cưới có thân mẫu Ðức Giêsu", ngoài ra Gioan còn xác định thêm "Ðức Giêsu và các môn đệ cũng được mời tham dự". Cách trình bày trên có thấy có sự khác biệt, Ðức Maria tham dự tiệc không cùng cung cách với các môn đệ. Sự hiện diện của ngài như thể bình thường, ngược lại Ðức Giêsu và các môn đệ được mời đến một cách đặc biệt.

Ðức Maria đã chủ động để Ðức Giêsu làm dấu chỉ đầu tiên. Ðức Maria đưa lời xin bằng một khẳng định "Họ hết rượu rồi". Mẫu đối thoại giữa Ðức Giêsu và thân mẫu Người ngắn gọn nhưng sâu xa. Ðức Giêsu trả lời mẹ mình bằng một thành ngữ quen thuộc trong lối nói của người Do thái: "Thưa bà chuyện đó can gì đến bà và con?" Trong Kinh Thánh, cụm từ kiểu này thường nói lên sự bất hòa hay hiểu lầm giữa hai người (xem 2 Samuen 16,10; 2 Vua 3,13). Câu trả lời dĩ nhiên cứng rắn cho thấy Ðức Giêsu muốn có một thái độ cách xa với thân mẫu. Ðức Maria được mời gọi vượt trên tình mẫu tử tự nhiên và xuất hiện như người môn đệ, và ngài đã hiểu nên với một tấm lòng tin tưởng tuyệt đối đã nói với gia nhân "Người bảo gì các anh cứ làm theo". Nhờ Ðức Maria mà các môn đệ và các gia nhân trở thành những người chứng đặc biệt về dấu chỉ đầu tiên của Ðức Giêsu. Nhờ Ðức Maria họ đã thấy vinh quang Thiên Chúa và tin vào Ðức Giêsu.

Dấu chỉ ở Cana tiên báo trước chuyện xảy ra trên đỉnh đồi Can-vê khi "Giờ" đã hoàn tất (19,25-27). Chung quanh thập giá chỉ còn lại những người trung thành, một vài phụ nữ và người môn đệ Ðức Giêsu thương mến. Qua câu "Thưa bà, đây là con của bà", Ðức Giêsu không nói với cương vị người con nhưng Ngài tỏ ra ở đây như Thiên Chúa. Một lần nữa, Ðức Maria lại được gọi bằng "Bà" nhưng lúc này giờ thật sự đã đến "Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình". Người môn đệ đã trở thành "con của Ðức Maria" tức là người anh em của Ðức Giêsu. Khi nhận người môn đệ, Ðức Maria đại diện cho dân tộc mới khai sinh ra từ thập giá Ðức Giêsu. Ðức Maria tượng trưng cho kẻ có lòng tin đích thực, là người môn đệ đầu tiên làm nhân tố khai sinh cộng đoàn tiên khởi.

4. Ðức Maria trong Công Vụ Các Tông Ðồ 1,14.

Sau khi Ðức Giêsu lên trời, cộng đoàn tiên khởi tụ họp tại ngôi lầu trên với ba nhóm. Nhóm đầu tiên gồm 11 môn đệ, sau đến nhóm một số các bà trong đó có thân mẫu Ðức Giêsu, và cuối cùng là nhóm "anh em" của Ðức Giêsu. Ðức Maria được chỉ định trong nhóm các bà chứ không cùng nhóm anh em Ðức Giêsu. Một cách nào đó Ngài đã "tách rời" khỏi nhóm họ hàng và thật tình liên đới với nhóm các bà đã đến chăm sóc mộ Ðức Giêsu, và nhóm này đã giữ vai trò quan trọng trong việc khai sinh lòng tin vào sự sống lại. Họ là nhóm chứng nhân. Trong đó, chỉ một mình Ðức Maria được nêu danh tánh là thân mẫu Ðức Giêsu. Ngài là trung tâm điểm của nhóm và làm gạch nối giữa nhóm các môn đệ và nhóm anh em Ðức Giêsu. Ðức Maria đã có vai trò đặc biệt trong cộng đoàn tiên khởi là hình ảnh Giáo hội sắp khai sinh.

Ðức Maria mang lòng tin vượt qua thử thách lớn. Ðức Giêsu đã chết, nhưng Maria còn lại đây với các môn đệ và anh em để cầu nguyện đợi chờ Chúa Thánh Thần. Một dân tộc mới được khai sinh từ sự vắng bóng của Ðức Giêsu nhờ Chúa Thánh Thần.

Kết luận.

Sau khi duyệt qua các sách Tân Ước, chúng ta hẳn ngạc nhiên khi thấy các tác giả đã dành cho Ðức Maria một chỗ đứng rất khiêm tốn. Các vị như Phaolô, Phêrô và Giacôbê không viết gì về ngài. Tin Mừng cựu trào nhất là Mác-cô cũng chỉ nói phớt qua. Mát-thêu nhìn nhận Ðức Maria là mẹ Ðấng Thiên sai. Duy chỉ còn Lu-ca và Gioan là dành cho ngài một chỗ đặc biệt : Ðức Maria là mẹ Con Thiên Chúa và là người môn đệ đầu tiên. Dù ít được nói tới so với 27 pho sách kết thành Tân ước, nhưng chúng ta đều thấy Ðức Maria đã giữ một vai trò quan trọng trong lịch sử cứu rỗi.