Ðức Maria trong ý định Thiên Chúa
theo quan điểm Công giáo và Tin lành

Lời mở đầu.

Ngày lễ Ðức Maria hồn xác lên trời năm nay (15-08-98) có gần 200.000 giáo dân Việt Nam nô nức tuôn về La Vang để mừng lễ kỷ niệm 200 năm Ðức Maria hiện ra, và hằng năm có hàng triệu triệu người đến Lộ Ðức, Fatima, Marienfried, Banneux, rue du Bac và những trung tâm hành hương khác trên thế giới để tôn kính Ðức Mẹ Maria! Người Công giáo có lòng tôn kính Ðức Maria rất đặc biệt! Chúng ta ít nghe nói đến người Tin lành tôn kính Ðức Maria, thậm chí có người còn nói: người Tin lành không tin Ðức Maria! Sự thật thế nào? Ðức Maria, Mẹ Ðức Kitô, là lý do thêm để chia rẽ giữa Công giáo và Tin lành hay sao?!

Con đường đại kết đang hồi tiến bước giữa Tin lành và Công giáo, chúng ta thử tìm hiểu hai vấn đề mà Giáo hội Tin lành và Giáo hội Công giáo thường tranh luận với hy vọng hiểu biết quan điểm của nhau, xóa bỏ những hiểu lầm nhau, để tránh sự nghi k chia rẽ để thông cảm tôn trọng nhau hầu hướng đến sự đại kết.

I- Ðức Maria đồng công cứu thế. Hay phải hiểu thế nào "Ðức Maria đã cộng tác vào việc cứu rỗi nhân loại."

II- Sự tôn kính Ðức Maria! Cầu khẩn, tôn vinh Ðức Maria.

I-Việc "đồng công cứu thế" của Ðức Maria và sự tương quan giữa ân sủng và tự do.

Sự khác biệt căn bản đưa đến những tranh chấp giáo lý về đức tin về luân lý giữa hai giáo hội Tin lành và Công giáo như nhận định của một học giả: "Tin lành khởi sự từ Thánh kinh để đi đến Giáo hội; còn Công giáo bắt nguồn từ Giáo hội rồi đến Thánh kinh".

- Nói cách khác, nền tảng giáo lý đức tin của Tin lành duy chỉ căn cứ vào Thánh kinh mà thôi! Giáo hội Tin lành rất rộng rãi trong vấn đề giải thích Thánh kinh tùy theo Thánh Thần soi sáng, Giáo hội Tin lành không chấp nhận Thánh truyền.

- Ðối với Giáo hội Công giáo, ngoài Thánh kinh ra còn thêm Thánh truyền là kho tàng chứa đựng Chân lý mạc khải được ủy thác cho Giáo hội tông truyền. Thánh kinh là Lời Chúa được ghi chép lại do ơn linh ứng của Chúa Thánh thần; còn Thánh truyền là cách sống và những thực hành, những tin tưởng của các Tông đồ đã học hỏi nơi Chúa nay truyền lại cho các đấng kế vị đã trung thành gìn giữ và lưu truyền lại trong Giáo hội. Ví dụ: lòng sùng mộ tôn kính của giáo dân đối với Ðức Maria trải qua nhiều thế kỷ.

Ngoài ra còn Quyền giáo huấn của Giáo hội Công giáo là quyền giải thích cách chính thức và đặc biệt về ý nghĩa của Thánh kinh và Thánh truyền với mục đích phụng sự dân Chúa chớ không vượt trên và làm chủ Thánh kinh và Thánh truyền. Như thế, Thánh kinh, Thánh truyền và Quyền giáo huấn của Giáo hội Công giáo phối kết chặt chẽ góp phần cho ơn cứu rỗi!

Việc "đồng công cứu thế" của Ðức Maria trong việc cứu rỗi nhân loại là một vấn đề tranh chấp quan trọng về giáo lý giữa hai giáo hội Tin lành và Công giáo.

A- Xác tín Tin lành.

Chỉ căn cứ vào Thánh kinh, giáo lý Tin lành xác quyết: "con người được công chính hóa - nghĩa là được cứu rỗi và được thánh hóa - nhờ ân sủng của Thiên Chúa bởi đức tin nơi Ðức Kitô", Ân sủng là ân huệ, sự trợ giúp Chúa ban cho con người cách nhưng không (Rm 6,19-22). Ðức Kitô là Ðấng Cứu rỗi duy nhất (solus Christus), Ðức Kitô là Ðấng trung gian duy nhất. Ngoài Ðức Kitô ra, không cần một ai khác, dù là Ðức Maria, có sức ban ơn cứu rỗi chúng ta. Và con người được cứu rỗi không do gì các công nghiệp (việc lành) riêng tư của chúng ta chỉ là do ân sủng nhưng không của Thiên Chúa.

Vì thế theo giáo lý Tin lành, nói Ðức Maria là Ðấng đồng công cứu thế là không đúng Thánh kinh.

Thật vậy, chỉ từ ngữ "đồng công" cũng cho chúng ta có tư tưởng sự cộng tác bằng nhau, ngang hàng giữa Ðức Kitô và Mẹ Maria trong việc cứu rỗi nhân loại!

Thần học Tin lành nhận thấy nơi từ ngữ "đồng" diễn tả vai trò độc lập của Ðức Maria, hay nói cách táo bạo hơn, như là có một sự tranh giành trong vai trò cứu rỗi nhân loại giữa Mẹ Maria và Ðức Kitô!

Giáo sư K. Barth, nhà thần học danh tiếng Tin lành, đã mạnh mẽ chống lại "thánh mẫu học" của Công giáo và ông lên án là "lạc giáo"! Không chỉ vì một lời nói "Xin vâng như lời thiên thần truyền (Fiat)" của Maria, nữ tỳ Thiên Chúa: mà Ðức Maria trở nên "Mẹ Thiên Chúa" (Mater Dei), Ðấng trung gian các ơn (mediatrix omnium gratiarum), Ðấng đồng công cứu thế (corredemtrix), Nữ vương trên trời (Regina coeli). Làm sao hiểu được chỉ vì tiếng "Fiat mihi" và sự cưu mang Ðức Kitô mà Ðức Maria được nên cao trọng quá đỗi như 258.) vậy? (K. Barth, Dogmatique, vol. IV, t. III, par. 71, Genève, Labor et Fides, 1973, p. 258).

Những tước hiệu cao trọng làm cho chúng ta nghĩ Ðức Maria là nữ thần quyền phép, cũng ngang hàng, không nói là trên Ðức Kitô, Giáo lý Kinh thánh cho chúng ta biết: Ðức Kitô là Ðấng Cứu thế duy nhất, là Ðấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người! Vì thế, theo Tin lành, Ðức Maria cũng là con người được cứu rỗi, là con người nhận lãnh ơn Chúa bởi đức tin. Ðức Maria không giúp thêm công trạng gì trong cứu rỗi nhân loại và cũng không là Ðấng trung gian ban phát các ơn.

Theo thông điệp "Mẹ Ðấng Cứu Thế của đức Gioan Phaolô II (số 13) thì: tiếng "xin vâng" (Fiat) của Ðức Maria nói lên sự cộng tác hoàn toàn "với ơn Chúa" và "sự sẵn sàng đáp ứng hoàn toàn dưới tác động Chúa Thánh Thần"; thì anh em Tin lành đặt câu hỏi: "Có phải chỉ vì tiếng xin vâng (Fiat) của Maria (do công nghiệp của Ðức Maria) mà có sự nhập thể của Ngôi Hai, hay là chính nhờ ơn sủng (nhờ ơn Chúa trong đức tin) mà Maria có thể thưa xin vâng (Fiat)?

Hai nhà thần học danh tiếng Tin lành đã trả lời như sau:

K. Barth: "Ðức tin không phải là tác động hỗ tương, nhưng là tác động khước từ sự hỗ tương có nghĩa là ơn do Thiên Chúa ban cách nhưng không. Chỉ có một Ðấng trung gian duy nhất là Ðức Kitô, ngoài ra không còn có trung gian nào khác. Sự mạc khải và sự giao hòa là việc làm nhưng không của Thiên Chúa; chính Thiên Chúa vì lòng thương tỏ ban cho con người!" (K. Bart. Dogmatique, vol.I, t.IỊ par.15. Genève. Labor et Fides. 1954. trg. 135)

Jean Bosc: "Sự khiêm nhượng vâng lời mang tính cách cứu rỗi của Ðức Kitô bao phủ sự khiêm nhường vâng lời của toàn thể nhân loại, kể cả Ðức Maria: Vì với nhân tính, chính Ðức Kitô đã đại diện loài người để thi hành thay cho loài người. Làm sao nói được con người cộng tác trong việc cứu rỗi nhân loại, khi mà việc cứu rỗi loài người đã hoàn tất cách trọn hảo nơi Ðức Kitô?! Ý tưởng "đồng công cộng tác" bắt nguồn từ ý niệm có sự cộng tác song song của con người để phụ thêm vào việc cứu rỗi của Ðức Kitô, nhưng đừng quên rằng sự cộng tác nhân loại nầy không cần thiết vì việc cứu rỗi đã được hoàn tất nơi Ðức Kitô vừa là Thiên Chúa cũng vừa là con người! Như thế là từ chối sự cần thiết của các việc lành? Không đâu! Các việc lành chỉ là kết quả của ân sủng sung mãn, là việc nói lên lòng biết ơn con người được lãnh nhận do Ðức Kitô. (Jean Bosc. La Constitution Lumen gentium. Points de vue protestants. Paris. Cerf. N. 64; trg 44)

Vì thế, giáo lý tin kinh thánh Tin lành xác định: con người, kể cả Ðức Maria, được công chính hóa có nghĩa là được cứu rỗi, là do ơn sủng của Thiên Chúa ban cho cách nhưng không và nhờ đức tin vào Ðức Kitô. Và Ðức Maria không thể là người cộng tác vào công cuộc cứu rỗi loài người.

B- Xác tín Công giáo.

"Thiên Chúa sai Con một của Ngài đến trong thế gian" (Gl 4,4), thì thuở muôn đời, Thiên Chúa đã chọn "một thiếu nữ, thuộc gia tộc Ðavid, tên là Maria. Ðể làm Mẹ Ðấng Cứu Thế, Ðức Maria được Thiên Chúa ban cho những hồng ân cao trọng tương xứng với phận sự lớn lao (LG 56). Ðức Maria "đầy ân sủng", đã được cứu chuộc cách tuyệt vời nhờ công nghiệp Con Mẹ (LG 53) "Mẹ được ơn vô nhiễm nguyên tội".

Khi thiên thần báo tin, Mẹ sẽ sinh ra Con Ðấng Tối cao do quyền năng Chúa Thánh thần, Mẹ trả lời "Xin vâng" trong đức tin (Rm 1,5; Lc 1,37-38). Mẹ Maria đã trở thành Mẹ của Ðức Kitô và đồng lòng phối hiệp với thánh ý cứu độ của Thiên Chúa, Mẹ đã trọn vẹn dâng hiến đời mình để phục vụ mầu nhiệm cứu độ nhờ ân sủng của Thiên chúa" (LG 56). Như thánh Irêne đã nói: "Do sự tuân phục của mình, Mẹ đã trở thành nguyên nhân cứu độ cho mình và cho toàn thể nhân loại." Như thế Ðức Maria "đã hợp tác vào ơn cứu độ loài người bằng đức tin và sự vâng phục tự do của mình! Sự hiệp nhất của Mẹ Maria với con mình trong công cuộc cứu độ thật rõ ràng từ khi mang thai cho tới khi Ngài chết (LG 58). Sau khi Ðức Kitô lên trời, Mẹ đã trợ lực Giáo hội sơ khai bằng những lời cầu nguyện của mình. Sau cuộc đời trần thế, Mẹ đã được đưa về trời cả xác lẫn hồn để tham dự phần đặc biệt vào sự phục sinh của Ðức Kitô, và là một sự thực hiện trước của sự phục sinh các Kitô hữu khác.

Chúng ta tin rằng Mẹ rất thánh của Thiên Chúa, Mẹ của Giáo hội vẫn tiếp tục trên trời vai trò từ mẫu của Mẹ đối với các chi thể của Chúa Kitô.

Theo Thánh kinh, Công giáo cũng đồng ý với Tin lành: sự công chính hóa nhờ ân sủng của Chúa Thánh thần bởi Ðức tin vào Ðức Kitô (Rm 3,24) được dự vào bản tính của Thiên Chúa (2 Pr 1,3-4) và được sự sống vĩnh cửu (Ga 17,3). Sự công chính hóa ban cho chúng ta nhờ công ơn cuộc tử nạn của Ðức Kitô. Ơn công chính hóa là công cuộc tuyệt hảo nhất của Tình yêu Thiên Chúa được tỏ bày trong Ðức Kitô và được ban do Chúa Thánh thần.

Ðức Maria Ðấng trung gian có nguồn gốc thánh truyền từ hồi Trung cổ. Khi nói "Ðức Kitô là Ðấng trung gian duy nhất" giữa Thiên Chúa và loài người (1 Tm 2,5) là rất đúng giáo lý Thánh kinh, nhưng cũng có thể hiểu theo nghĩa rộng là "Ðức Kitô, Ðấng trung gian duy nhất, chọn con người như dụng cụ để hoạt động. Vì thế cũng có thể nói là loài người chúng ta là trung gian giữa nhau".

Vai trò trung gian của Ðức Maria trong việc cứu rỗi loài người vẫn tiếp tục khi Maria về trời "Ðức Maria vẫn tiếp tục cầu bầu cho chúng ta những ơn bảo đảm ơn cứu độ cho loài người. Vì thế, Ðức Maria được Giáo hội kêu cầu dưới những danh hiệu: Mẹ phù hộ, Mẹ hằng cứu giúp, Ðấng trung gian" ( LG 62).

Sự đồng công cứu thế của Ðức Maria là kết quả của ý định Thiên Chúa Cha đã "nhìn đến phận của tớ nữ" (Lc 1,48), cũng là kết quả của "tự hạ mình của Ðức Kitô" (Ph 2,7-8) để cho loài người có thể đáp nhận ơn sủng, và cũng là kết quả của tác động Thánh linh làm cho Ðức Maria vâng lời chấp nhận: đó là kết hiệp mật thiết với Ðức Kitô trong việc cứu thế.

Khi được thiên thần báo tin Ðức Maria sẽ cưu mang và sinh ra "Con của Ðấng Tối cao" do quyền năng Chúa Thánh thần, Maria trả lời trong vâng phục của đức tin bằng tiếng: Xin vâng (Fiat). Khi ấy, Ðức Maria trở thành Mẹ Ðức Kitô và đồng thời kết hiệp với việc cứu rỗi của Thiên Chúa như thánh Irêne đã nói: "Do sự tuân phục của mình, Ðức Maria đã trở thành nguyên nhân cứu độ cho bản thân và cho toàn thể loài người." Như Công đồng Vatican II đã nói: "Ðức Maria đã hợp tác vào ơn cứu rỗi loài người bằng đức tin và sự vâng phục tự do của mình" (LG 56). Ðức Maria đã cộng tác vào tất cả công cuộc mà Ðức Kitô Con Mẹ thực hiện.

Ðó là tất cả những gì đã xảy ra khi Ðức Maria thưa "xin vâng". Ðức Maria đã ý thức vui lòng khước từ làm chủ đời mình mà phó mình theo ý định Thiên Chúa. Vì thế Ðức Maria là mẫu gương cho những ai biết từ bỏ mình mà thuận theo thánh ý Chúa.

Ðức Maria được chọn làm Mẹ Thiên Chúa vì Maria được công chính hóa bởi ân sủng và trong đức tin, Ðức Maria được cộng tác vào chương trình hoạt động của Thiên Chúa nơi Ðức Kitô. Sự cộng tác nầy là duy nhất vì Maria đã sinh ra Ðức Kitô và dưỡng nuôi Ðức Kitô. Cho nên Maria được cộng tác vào biến cố duy nhất và phổ quát của việc cứu rỗi của Ðức Kitô. Cũng có thể nói được rằng, theo thân phận làm người, tất cả những ai được công chính hóa bởi ân sủng nhờ đức Kitô thì cũng được dự phần cộng tác vào việc cứu rỗi, vì đó là kết quả của ơn Chúa. Thánh Âu-cơ-tinh đã nói và được lấy lại trong kinh tiền tụng kính các thánh: "Cha được tôn vinh trong cộng đoàn các thánh, vì khi Cha tuyên dương công nghiệp các ngài, Cha tuyên dương chính hồng ân của Cha".

Theo quan điểm Công giáo thì tất cả các việc lành, gọi là công nghiệp, là ơn nhưng không của Chúa và đồng thời cũng là hành động tự do của con người trong ơn Chúa. Công nghiệp chính là ân sủng của Chúa.

Như thế chúng ta không thể nói rằng hoạt động của Ðức Maria hoàn toàn độc lập với hoạt động của Ðức Kitô. Sự cộng tác của Ðức Maria không phải tính thêm phần nào với hoạt động Thiên Chúa, nhưng vì là kết quả của ân sủng, cho nên không xâm phạm gì đến việc cứu rỗi của Ðức Kitô. Theo giáo lý Công giáo thì: Thiên chúa ban ơn cứu rỗi cho loài người trong Thánh linh nhờ vào Ðức Kitô, và quyền năng của Ðức Kitô, Ðấng trung gian duy nhất, rất là bao la vĩ đại nên có sức mãnh liệt ban cho Ðức Maria có khả năng tham dự vào công trình cứu rỗi nhân loại cách tự do.

C- Tiến đến sự thông cảm đại kết.

Trước hết phải thành thật công nhận có nhiều nhà thần học Công giáo đi "quá trớn" khi nói về Ðức Maria như là "Ðấng đồng công cứu thế" hay "Ðấng trung gian". Khách quan mà nhìn, dùng hai cụm từ "đồng công cứu thế", "trung gian" là không được đúng; vì làm cho người ta liên tưởng đến vai trò của Ðức Maria cũng ngang hàng với Ðức Kitô.

Chỉ vì danh hiệu "Ðức Maria là Ðấng trung gian" được dùng và được hiểu cách biệt lập khỏi sự thông hiệp các thánh, đặt ra ngoài mầu nhiệm Giáo hội thông công và mầu nhiệm Ðức kitô cứu thế, mới có sự hiểu và cắt nghĩa sai ý nghĩa trung gian của Ðức Maria: đó là sự hiểu lầm quan trọng. Vì cả hai Giáo hội Tin lành và Công giáo đều công nhận: Ðức Kitô là Ðấng trung gian duy nhất (solus Christus) và việc công chính hóa các hối nhân do ân sủng (sola gratia) bởi đức tin vào Ðức Kitô. Nhưng cũng nên biết là Thiên Chúa chọn con người như là những trung gian phụ khác, đăc biệt là Ðức Maria, không làm suy giảm đến "Ðấng trung gian duy nhất" là Ðức Kitô; trái lại tăng trưởng sự hiệp thông và tôn vinh vai trò trung gian Ðức Kitô.

Cụm từ: "Ðồng công cộng tác", theo truyền thống Công giáo thì phải được hiểu là, nhờ ơn Chúa, con người đáp lại, là nhận lấy ơn sủng trong đức tin, đức cậy và đức mến. Vì thế không có sự nghịch nghĩa giữa "đồng cộng tác" theo nghĩa Công giáo và "sự đáp nhận" của con người đối với ơn sủng của Chúa theo nghĩa Tin lành. Người Công giáo xác tin rằng: ý định cứu rỗi nhân loại của Thiên Chúa đã làm cho Ðức Maria có thể tự do nói lên tiếng xin vâng (fiat) nhờ ơn sủng của Chúa. Và nhờ quyền năng Chúa Thánh thần, Ðức Maria dự phần vào cuộc khổ nạn của Ðức Kitô và sự Sống lại của Người.

Chính Luther trong quyển "Traité de la liberté chrétienne", Oeuvres, t.II, Genève, Labor et Fides ,1966, p. 296-298 đã nhận định: "Chính tôi chỉ là một tạo vật hèn mọn, không có công gì xứng đáng, nhưng vì lòng nhân từ vô biên của Thiên Chúa, Ngài đã ban cho tôi ơn công chính hóa và ơn phần rỗi, thật thế tôi không cần gì hết, nhưng chỉ cần đức tin để tin hầu được hưởng được ơn trọng đại như vậy. Vì đức tin là cội nguồn tình yêu trong Thiên Chúa, và chính nhờ tình yêu mà tôi vui lòng phục vụ tha nhân".

Có thể nói được: việc cứu rỗi là tác động hỗ tương: không có việc cứu rỗi nếu con người không chấp nhận, nếu không được đáp nhận trong ơn sủng. Mọi đáp nhận vừa là tác động của ơn sủng vừa là tác động của tự do con người trong ơn sủng. Sự khôn ngoan Công giáo là bình thản như để cho Chúa làm tất cả và hãy hăng hái hoạt động dường như Thiên Chúa phú giao cho con người, Ngài không làm gì hết. Thiên Chúa ban cho chúng ta ý chí, lòng muốn thi hành và Người thi hành bởi chúng ta tất cả những gì chúng ta thi hành.

Một ví dụ để hiểu rõ hơn: Người nhận món quà không có ý định sáng kiến gì nơi người tặng quà và món quà. Nhưng món quà chỉ mang đầy đủ ý nghĩa là "quà tặng", khi món quà được nhận bởi một người. Như thế có thể hiểu rằng người tặng quà cũng cần đến người nhận quà để món quà mình mang đầy đủ ý nghĩa của nó. Vậy việc đáp nhận món quà cũng góp phần vào ý nghĩa món quà.

Ðức Kitô cũng đã phải thốt lên: "Biết bao lần, Thầy cũng muốn tụ hợp các con lại như gà mẹ tụ hợp đàn gà con dưới cánh, nhưng mà các con không muốn." (Mt 23,37). Thánh Âu-cơ-tinh đã nói: "Thiên Chúa tạo dựng nên con, không cần sự cộng tác của con, nhưng Thiên Chúa muốn cứu chuộc con thì cần sự cộng tác của con;" (Augustin, Sermon 169, 11, 13. PL 38, col. 923).

Ðây là một sự nghịch lý của Giao ước: Giao ước chỉ là đơn phương về phía Thiên Chúa nhưng nếu muốn Giao ước linh nghiệm thì phải trở nên song phương, nghĩa là phải có người đáp nhận lời Giao ước đó. Giao ước thành hình hiện hữu trước sự đáp nhận, nhưng cần được đáp nhận để được hữu hiệu. Kitô giáo không chấp nhận ý tưởng một Thiên Chúa cô độc, và có thể táo bạo quả quyết rằng: Thiên Chúa làm hiện hữu con người và con người cũng làm hiện hữu Thiên Chúa của Giao ước! Vì thế, Thiên Chúa muốn làm hiện hữu Ðức Kitô trong cung lòng Ðức Maria bằng tiếng "xin vâng" (fiat)!

Và bất cứ sự đáp nhận nào cũng đòi hỏi trách nhiệm. Việc cộng tác của Ðức Maria cũng giúp vào việc chu toàn việc cứu rỗi, vì Ðức Maria đã giữ vai trò đặc biệt duy nhất, trong ân sủng và bởi đức tin, trong khi sinh Ðức Kitô và khi Ðức Kitô chết trên thập giá. Maria đã đáp nhận bằng tiếng xin vâng trong đức tin được diển tả trong suốt cuộc đời của Ðức Maria!

Với tinh thần thông cảm đại kết, anh em Tin lành hiểu cho Giáo hội Công giáo khi dùng cụm từ "Ðấng đồng công cứu thế" hay "Ðấng trung gian" phải được hiểu như ý trên và nhất là không đá động gì tới vai trò "cứu thế duy nhất và trung gian duy nhất" của Ðức Kitô (solus Christus). Và với thành tâm thiện chí cùng tìm hiểu, hoán cải và xây dựng lại để cùng nhau tìm ra từ ngữ nào khả dĩ dể chấp nhận cho cả đôi bên.

II- Sự tôn kính Ðức Maria.

Một điểm tranh chấp rất quan trọng giữa Tin lành và Công giáo là việc tôn kính Ðức Maria và các thánh.

Giáo hội Tin lành dạy chỉ tôn thờ mến yêu một mình Thiên Chúa mà thôi, Ngoài Thiên Chúa ra, không được tôn thờ một ai khác, kể cả Ðức Maria, vì chỉ Thiên Chúa là Ðấng Tạo Hóa, còn tất cả chỉ là loài thụ tạo. Ðây là thái độ chung của anh em Tin lành là: không chấp nhận việc tôn thờ Ðức Maria và các thánh.

Giáo hội Công giáo dạy chỉ tôn thờ mến yêu một Thiên Chúa duy nhất, Ðấng tạo dựng vũ trụ, nhưng còn khuyên tôn kính Ðức Maria, các thánh.

Thánh kinh Cựu cũng như Tân ước dạy rõ: "Ngươi hãy thờ lạy Chúa là Thiên Chúa ngươi và ngươi chỉ tôn thờ một mình Ngài mà thôi." ( Ðnl 6,13) "Hãy tôn thờ yêu mến một Thiên Chúa hết lòng, hết sức, hết linh hồn, hết trí khôn,..." (Lc 4,8). Trong Thánh kinh nhiều chỗ nói về Ðức Maria nhưng không nói gì về sự tôn kính, nhưng có giọng như là lơ là bất kính "Cha mẹ chịu khó tìm kiếm làm chi? Không biết là Con phải làm theo ý Cha...", "Ai là mẹ Ta, ai là anh em Ta? Ðó là những ai nghe và vâng giữ Lời Chúa..." Và trên thánh giá: "Nầy là con bà..."

Sự tranh chấp nầy phát sinh bởi quan niệm mù mờ về ý nghĩa từ ngữ "tôn thờ, tôn kính" trong việc phụng tự (culte). Công đồng chung thứ VII Nicée vào năm 787 đã định nghĩa và phân biệt rõ ràng ý nghĩa tôn thờ: sự tôn thờ (latrie) dành chỉ về một mình Thiên Chúa mà thôi: chỉ có sự tôn thờ đối với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh thần; còn đối Ðức Maria và các thánh thì có sự tôn kính.

Ðối với Tin lành, việc phụng tự là việc tôn thờ nên không có việc cầu nguyện cùng Ðức Maria và các thánh bởi lý do là việc cầu nguyện là hành động phụng tự tôn thờ (latrie) cho nên chỉ thuộc về Thiên Chúa mà thôi.

Còn Công giáo nghĩ rằng cầu nguyện cùng Ðức Maria có nghĩa là lời cầu lên Ðức Maria để Người cầu bầu cùng Thiên Chúa cho chúng ta, là tác động tôn kính (dulie).

Lời khẩn cầu cùng Ðức Maria là lời ngợi khen ca tụng vì những ơn lành Thiên Chúa đã ban cho Ðức Maria. Lời ca tụng nầy không chỉ dành riêng cho loài người mà cho cả triều thần thiên quốc như chúng ta thường hát trong các kinh tiền tụng về Ðức Mẹ và các Thánh! Chúng ta ca ngợi tôn vinh Ðức Maria là đáp lại ý nghĩa câu "Muôn thế hệ sẽ khen tôi có phước;" của kinh Magnificat. Cách chung các nhà thần học Tin lành cũng đồng ý quan điểm nầy, nhưng Luther đã mạnh bạo chống lại những hình thức quá trớn, những từ ngữ sai lệch về việc tôn kính Ðức Maria của Giáo hội Công giáo!

"Lòng tôn kính đối với Ðức Maria là điều nội tại của phụng tự Kitô giáo." (SÐ 56) nhưng là khác với phụng tự tôn thờ dành riêng cho Thiên Chúa Ba Ngôi.

Trong ý nghĩa nầy, người Công giáo hiểu lời kinh cầu khẩn cùng Ðức Maria và các thánh đó là lời kinh nguyện dâng lên Thiên Chúa và chỉ một mình Thiên Chúa là Nguồn ân sủng và là Ðấng ban phát các ơn. Lời kinh nguyện khẩn cầu nầy hiệp thông với lời nguyện ca tụng ngợi khen Thiên Chúa của các thánh ở khắp mọi nơi và mọi lúc, của kẻ sống và kẻ chết trong Ðức Kitô. Lời kinh nguyện cầu khẩn là dấu chỉ sự hiệp thông của các thánh!

Cái nhìn đại kết

Phải thành thật công nhận rằng, có nhiều người Công giáo đã lạm dụng quá trớn đôi khi sai lạc trong việc tôn kính Ðức Maria bằng những kinh nguyện, những sách vở, những danh từ, những lời tôn vinh Ðức Maria. Những lạm dụng quá trớn nầy kéo dài từ thời Trung cổ cho đến bây giờ vẫn còn tồn tại. Những biểu dương lòng sùng kính Ðức Maria làm nhiều người ngoài Công giáo nghĩ là tôn thờ Ðức Maria là Nữ thần đầy quyền phép. Cũng biết có bao người dường như chỉ cầu nguyện cùng Ðức Maria mà quên hẳn cầu cùng Chúa. Lại có người Công giáo nghĩ sai: cầu nguyện với Chúa không được nhậm lời, hãy cầu nguyện cùng Ðức Maria cho chắc ăn!

Lý do có sự chia rẽ về Ðức Maria là khi Ðức Maria bị tách rời khởi Ðức Kitô và khỏi sự hiệp thông Giáo hội! Nói cách khác là thánh mẫu học cần phải liên quan chặt chẽ với các môn Kitô học và Giáo hội học.

Trong chiều hướng đại kết, Công đồng Vatican II đã đặt Ðức Maria trong hiến chế về Giáo hội và Maria đứng về cộng đoàn dân Chúa: xây dựng nền thần học về Thánh Mẫu nằm trong mầu nhiệm Ðức Kitô và mầu nhiệm Giáo hội.

Tin lành và Công giáo đều đồng ý chấp nhận theo Kinh thánh: tôn kính (vénérer) (khác với tôn thờ : adorer) có nghĩa là yêu mến, tôn trọng, ca tụng Ðức Maria, và ca ngợi Thiên Chúa vì "Ðấng toàn năng đã làm cho tôi những việc trọng đại" và vì "muôn thế hệ sẽ khen tôi có phúc"!

Trong đời sống đạo của các Kitô hữu Ðức Maria giữ ba vai trò quan trọng:

- Vai trò mẫu tử: Ðức Maria là Mẹ Ðức Kitô và là Mẹ các giáo hữu.

- Vai trò bảo trợ, phù hộ, chữa lành: Ðức Maria giải trừ các ưu phiền khổ cực, các bệnh tật xác hồn.

- Vai trò phát triển văn hóa dân tộc: Ðức Maria được tôn kính dưới sắc thái của mỗi dân tộc...

Thần học mục vụ cũng không nên khinh chê đức tin bình dân của những người đơn sơ hèn mọn và thường đó chỉ là tâm tình tôn giáo có sức giúp sống đức tin Công giáo!

Trong Tông thư về việc tôn kính Ðức Maria "Maria cultus" 2-2-74 (DC. 1651 (1974) p. 301-318, Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI đã kêu gọi việc cải tổ lòng tôn kính Ðức Maria cho đúng với tinh thần Thánh kinh, hợp với Ðức tin và nhất là mang tinh thần đại kết: tránh đi những hình thức quá trớn sinh sự hiểu lầm trong việc tôn kính Ðức Maria. "Lòng tôn kính Ðức Maria phải có mục đích là ca tụng vinh danh Thiên Chúa và Kitô hóa đời sống tín hữu!

Chúng ta thấy không có gì trở ngại nhưng rất hợp tình hợp lý mà công nhận rằng:

- Một người anh em trong Ðức Kitô có thể có lòng tôn kính Ðức Maria, hành động nầy không có gì làm ngăn cách đức tin giữa Tin lành và Công giáo.

- Và cả đến những sự hiện ra của Ðức Maria, dù được công nhận như ở Lộ Ðức, Fatima....cũng chỉ là "việc mạc khải riêng tư" không thuộc về chân lý đức tin, cho nên mọi người Công giáo được tự do chấp nhận hay không;

- Bỏ dứt Ðức Maria, Mẹ Ðức Kitô, qua một bên: đây là việc làm thiệt thòi cho sự kết hiệp với Ðức Kitô, vì cuộc đời Ðức Mẹ gắn liền cuộc đời Ðức Kitô từ khi sanh ra cho đến khi chết trên thánh giá.

- Việc tôn kính cũng có những cấp bực nhiều ít, đặc biệt ưu hạng hay bậc thứ... như việc thương mến... Người Công giáo đặc biệt tôn vinh Ðức Maria ...dĩ nhiên vẫn còn trong bực tôn kính (dulie) chớ không tôn thờ (latrie) vì việc tôn thờ chỉ thuộc một mình Thiên Chúa mà thôi.

Thay lời kết.

Lời nguyện dấn thân cho việc đại kết giữa các Giáo hội kitô giáo.

"Nguyện xin Thánh linh Thiên Chúa hướng dẫn chúng ta trên con đường đại kết:

- Chúng ta cùng xác tín rằng những gì liên kết chúng ta lại mạnh hơn những gì phân rẽ chúng ta.

- Chúng ta cùng bền chí kiên tâm trong việc lắng nghe nhau trong tình huynh đệ và trong việc dấn thân phục vụ công cuộc đại kết với niềm hy vọng vững chắc.

- Với lòng thành tâm thiện chí, chúng ta cùng nhau học hỏi kinh nghiệm trong sự khác biệt như là sức mạnh xây dựng hơn là sự nguy cơ phá đổ. (xem tiếp trang 26)

- Nguyện xin cho mỗi người chúng ta vững tâm bền chí tiến lên con đường đại kết bằng sự thống hối chân thành cá nhân.

Chúng ta hãy phó thác những ý nguyện trong Thánh linh Thiên Chúa, Người đến cứu chữa sự yếu hèn của chúng ta (Rm 8,26) và chúng ta xác tín rằng không có gì có thể tách rời chúng ta ra khỏi Tình yêu Thiên Chúa. (Rm 8, 39). (Tuần lễ đại kết 18-25/1/98)

Tài liệu tham khảo:

- "Marie dans le dessein de Dieu et la communion des saints. Groupe des Dombes. t. II . Ed. Bayard/Centurion. 1998.
- Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo. Mame/Plon. 1992.
- Hiến chế "Ánh sáng muôn dân" (Lumen gentium) Vatican IỊ
- Thông diệp "Mẹ Ðấng cứu thế"của Ðức Gioan Phaolô IỊ
- Tông thư về việc tôn kính Ðức Maria. (Maria cultus) 1974 của Ðức Phaolô VI