"Nầy là Mẹ Con”

(Ga 19, 27)

Trong thông điệp Giáo Hội từ Thánh Thánh Thể (EdE: Ecclesia de Euchatistia), Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nhìn đến Mẹ Maria như là “người nữ của Thánh Thể” (số 54), “Đức Maria đã xử dụng đức tin Thánh Thể của mình ngay trước khi Bí tích Thánh Thể được thiết lập, bởi vì Mẹ đã hiến dâng cung lòng trinh vẹn của Mẹ để Ngôi Lời của Thiên Chúa Nhập thể” (số 55). Nếu như mẹ là “người nữ của Thánh thể” thì cũng có thể nó Mẹ là “người nữ của chức linh mục”. Quả thật, trước khi lìa cõi thế, khi trao lại cho các môn đệ kho tàng sự sống: “nầy là Mình Thầy … Nầy là Máu Thầy… các con hãy làm việc nầy mà nhớ đến Thầy”, Chúa Giêsu đã tiếp nối di chúc đó bằng một lời trối cuối cùng: “Đây là Mẹ con”. 

Như vậy có thể hiểu ý muốn của Chúa Giêsu là việc cử hành Bí Tích Thánh Thể luôn có sự hiện diện của Mẹ Maria. Như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã quảng diễn: “Nếu Bí tích Thánh Thể là một mầu nhiệm đức tin vượt xa lý trí chúng ta, đến nỗi chúng ta chỉ còn phó thác hoàn toàn cho Lời Chúa mà thôi, thì không một ai ngoài Đức Maria có thể nâng đỡ và hướng dẫn chúng ta trong tiến trình nầy. Khi chúng ta lập lại hành động của Chúa Kitô trong Bữa Tiệc Ly. Khi vâng theo lệnh truyền của Ngài: hãy làm việc nầy mà nhớ đến Thầy (Lc 22, 19), chúng ta đón nhận cùng một lúc lời Đức Maria mời gọi vâng phục Chúa không do dự: hãy làm những gì Ngài dạy bảo (Ga 2, 5) … Đức Maria hình như muốn nói với chúng ta: đừng do dự, hãy tin vào những lời của Con Mẹ, Ngài có thể biến nước thành rượu ngon, Ngài cũng có thể biến bánh và rượu trở thành Thịt và Máu Ngài…” (EdE số 54). Do đó khi trối “Nầy là Mẹ con” (Ga19, 27) Chúa Giêsu thực sự muốn người linh mục luôn đồng hành với Mẹ Maria để học nơi Mẹ cách thế hợp nhất với Ngài cách hoàn hảo qua việc lắng nghe, cầu nguyện, đón nhận và hiến dâng. Bởi đó Đức Maria quả thật là Mẹ của Linh mục.

1. Mẹ như người nữ hy tế

Trọng tâm của đời sống linh mục chính là Thánh Thể. Thánh Thể là nguyên lý, phương tiện và cứu cánh của thừa tác vụ linh mục, bởi vì tất cả mọi thừa tác vụ của Giáo hội và mọi việc tông đồ đều liên kết chặt chẽ với Thánh Thể và được trao ban vì Thánh Thể (Bộ Giáo sĩ – Chỉ Nam cho Thừa Tác vụ Linh mục, năm 1994, số 48). Do đó, căn tính của người linh mục được thể hiện cách rõ ràng nhất qua việc cử hành Thánh Thể. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong thơ gởi Linh mục vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh 1997 cũng đã khẳng định rằng, qua việc cử hành Thánh Thể, người linh mục thực hiện hiến lễ như Chúa Giêsu đã thực hiện, và điều đó làm nên cốt lõi của đời sống linh mục.

Nói đến Thánh Thể tức nói đến Hy tế, do đó, căn tính của người linh mục cũng chính là đời sống hy tế, bởi vì chức linh mục và tính cách hy tế chỉ là một trong Đức Kitô. Khi dâng tiến Chúa Kitô trong Thánh lễ, người linh mục cũng dâng hiến chính mình để làm lễ hy tế vói Người (Fulton Sheen). Lễ Hy tế nơi Đức Kitô đã được dệt lên từ cung lòng Đức Trinh Nữ Maria, và chính nơi Mẹ là trường dạy biết sống để trở thành lễ hy tế. Thật vậy, với lời thưa “xin vâng”, Mẹ đã biến đời mình thành lễ hy sinh phục vụ cho chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa. Khi “xin vâng” Mẹ đã can đảm hiến dâng đời mình cho Thánh ý như của lễ hy tế. Tiên tri Simeon đã biểu tỏ rõ ràng cho biết của lễ hy tế nơi Mẹ: “Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà” (Lc 2, 35). Nói như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II: “Trong suốt cuộc đời của Mẹ bên cạnh Chúa Kitô, và không chỉ trên đồi Canvariô, Đức Maria đã lấy chiều kích hy tế của Bí tích Thánh Thể làm của mình” (EdE số 56). Từng ngày Mẹ đã chuẩn bị lên đỉnh đồi Canvariô bằng những ước và hiến dâng (x. EdE số 56).

Bởi đó, khi trối “nầy là Mẹ con”, Chúa Giêsu muốn người linh mục bước vào trường của Mẹ để học nơi Mẹ bài học hy tế, nhờ đó người linh mục sống đúng căn tính của mình, đó chính là luôn “sẵn sàng tìm ý muốn Đấng đã sai mình chứ không tìm ý riêng” (PO 15). Cho nên khiêm nhường và vâng phục là phương thế đầu tiên làm nên lễ hy tế. Thật vậy, của lễ Hy tế trên Thập Giá là kết quả của hành vi nầy: Đức Kitô “hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, và chết trên Thập tự” (Pl 2, 8). Đức Maria cũng đã khởi sự cuộc hành trình lên đồi Canvariô bằng thái độ khiêm cung “xin vâng”.

Bài học “xin vâng” của Mẹ được hình thành bởi ngọn lửa tin yêu, vì thế, hai tiếng “xin vâng” của Mẹ mang đặc tính giải phóng. Sự vâng phục của Mẹ khởi đầu cho một hành trình giải thoát con người khỏi nô lệ của tham vọng và nhát đảm. Vì tham vọng Nguyên tổ đã bất tuân, vì nhát đảm con người đã tuân theo dục vọng đam mê. Lời “xin vâng” của Mẹ nói lên thân phận “nữ tì” thấp hèn, nhưng rực lửa tin yêu: tin vào quyền năng của Thiên Chúa và yêu mến Thánh ý. Do đó sự vâng phục của Mẹ thể hiện một ý chị tự do và hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa, và bởi đó nó đã làm cho cuộc đời Mẹ trở thành hiến lễ tinh tuyền gắn kết với Hiến lễ Thập Giá của Con yêu Mẹ.

Cuộc đời hiến tế của Mẹ Maria luôn là khuôn mẫu cho người linh mục. Lời truyền phép của người linh mục vang lên trong Thánh lễ không là những lời khô khan, nhưng là những lời được đúc kết từ chính đời sống hy tế của mình. Khi Chúa trối Mẹ cho người linh mục “nầy là Mẹ con”, Chúa muốn người linh mục khi bước xuống khỏi bàn thờ cũng ở trong tay Mẹ, như Chúa đã ở trong tay Mẹ khi được tháo xuống khỏi Thập giá.Có nghĩa là hy tế được linh mục cử hành trên bàn thờ cũng là hy tế của chính bản thân người linh mục. Và khi ở trong tay Mẹ, người linh mục sẽ nhận ra rằng: thịt và máu nầy chính là Thị và Máu của Người Con chí ái mà Mẹ đã mang lại trong hang đá Bêlem.

2. Mẹ như là người nữ ngôn sứ

Loan báo Lời là yếu tố nền tảng của thừa tác vụ linh mục. Công đồng Vat. II đã khẳng quyết: “Dân Chúa được đoàn tụ trước hết là nhờ lời Thiên Chúa hằng sống; lời nầy phải được đặc biệt tìm thấy nơi miệng lưỡi các linh mục … Do đó các linh mục, vì là cộng sự viên của các Giám mục, nên trước tiên có nhiệm vụ loan báo cho mọi người Phúc Âm của Thiên Chúa” (PO 4). Đó cũng chính là sứ vụ mà Chúa Kitô ân cần trao cho các Tông đồ trước khi Ngài lên trời: “các con hãy đi khắp thế gian rao giảng Phúc âm cho mọi tạo vật” (Mc 16, 15).

Có một mối tương quan mật thiết giữa lời trối “nầy là Mẹ con”, và lệnh truyền: “các con hãy đi rao giảng”. Phúc Âm Maccô đã xác minh nhiệm vụ của chúa Giêsu khi đến trần gian chính là “rao giảng Tin mừng của Thiên Chúa. Người nói: thời kỳ đã mãn, và triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1, 14). Sứ vụ loan truyền nơi Chúa Giêsu đã được Đức Maria cưu mang trong cung lòng của Mẹ. Và có thể nói, trước tiên Mẹ là một người nữ ngôn sứ.

Mẹ là người nữ của ngôn sứ, cho dầu trong những trang Thánh kinh những lời phát biểu của Mẹ được tìm thấy rất hiếm hoi. Mẹ là người nữ ngôn sứ trước tiên vì Mẹ đã cưu mang Đấng là nguyên khởi của sứ vụ loan truyền, kế đến vì Mẹ là người đầu tiên loan báo Tin Mừng cứu độ. Mẹ loan truyền bằng thái độ tín thác vào Thiên Chúa qua lời Thiên thần truyền tin để mau mắn đáp trả: “xin vâng” để Ơn Cứu độ có thể đến với nhân loại, và đặc biệt Mẹ đã lớn tiếng cao rao: “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa” trong bài ca Magnificat để ca khen Thiên Chúa đã bắt đầu thực hiện chương trình cứu độ mà Người đã hứa với các Tổ phụ. Ngay từ giây phút khởi đầu sứ vụ công khai của Chúa Giêsu, Mẹ là người đầu tiên giới thiệu cho các gia nhân tại tiệc cưới Cana về Chúa Giêsu như là Đấng cứu độ: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2, 6).

Nhưng điều quan trọng để Mẹ là người nữ ngôn sứ trước hết không phải là “lên tiếng” nhưng là “lắng nghe” Lời Chúa và hoàn toàn tín thác vào Lời đó. Để thi hành sứ vụ loan báo Chúa Giêsu đã ở ẩn dật trong 30 năm; để có thể đáp trả “xin vâng” và cất tiếng “linh hồn tôi ngợi khen Chúa” Mẹ đã luôn giữ thái độ im lặng lắng nghe, và “ghi nhớ và suy đi nghĩ lại trong lòng” (x. Lc 2, 19, 51).

Người linh mục cũng chỉ có thể thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng cách chuẩn mực khi đặt mình vào trường học của Mẹ Maria, để học nơi Mẹ thái độ lắng nghe Lời, suy niệm Lời và tín thác vào Lời, trước khi rao giảng Lời. Có như vậy Lời được loan truyền mới thực sự là Lời có sức biến đổi. Nếu không như vậy lời loan truyền của chúng ta sẽ chỉ là lời hèn yếu của chính chúng ta và không mang lại một sức mạnh cứu độ nào. Bởi vậy việc thi hành lệnh truyền: “hãy đi rao giảng cho muôn dân” luôn đi kèm với việc đón nhận Mẹ như là trường để học biết cách loan truyền.

3. Mẹ như người nữ phục vụ

Thư Mục vụ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam 2006 đã viết: “Con người mới theo gương Chúa Giêsu phải là con người dấn thân phục vụ. Nếu việc phục vụ tha nhân có thể giúp cho người khác nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa nơi Kitô hữu, thì chính việc phục vụ đó cũng có thể giúp Kitô hữu cảm nghiệm tình yêu Thiên Chúa cách rõ nét hơn. Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI đã khẳng định về tác động hổ tương cần thiết này giữa tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với con người. Chính khi dấn thân phục vụ anh em, chúng ta cảm nghiệm Thiên Chúa một cách dễ dàng hơn. Ngài viết : “chỉ có việc phục vụ tha nhân mở mắt cho tôi thấy điều Thiên Chúa làm cho tôi và Ngài đã yêu tôi như thế nào” (Tđ. Thiên Chúa là Tình Yêu, số 18)” (Thư Mục vụ 2006 số 6). Như vậy, việc dấn thân phục vụ là hành vi thuộc về căn tính của đời sống Kitô hữu, và là một trong ba nhiệm vụ chính yếu của đời sống linh mục. Công đồng Vat. II đã nhấn mạnh: Linh mục phải săn sóc các tín hữu như những người cha trong Chúa Kitô, nêu gương cho đoàn chiên, phải làm sao hướng dẫn và phục vụ cộng đoàn địa phương của mình, phải minh chứng cho mọi người thấy chân lý và sự sống, phải đi tìm những con chiên sao lãng nhận lãnh Bí tích hay mất đức tin (x. LG số 28).

Phục vụ thuộc về bản chất Giáo Hội, cho nên người linh mục được chọn gọi để dấn thân phục vụ hầu tỏ bày căn tính của Giáo Hội, như Chúa Giêsu đã khẳng định: “Thầy đến để phục vụ, chứ không để được phục vụ” (Mc 10, 45), và Chúa còn nhấn mạnh: “Thầy ở giữa anh em như một người phục vụ” (Lc 22, 27).

Người linh mục phải trở nên giống như Chúa Giêsu trong việc phục vụ, nhưng làm sao để trở nên giống như Thầy nếu không đến với trường học của Đức Maria. Chúa Giêsu đã trối Mẹ Maria lại cho các môn đệ không phải là nhằm mục đích đó sao? Thật vậy Mẹ Maria có thể được gọi là người nữ phục vụ, bởi vì chính từ lòng Mẹ đã sinh ra Đấng “đến trần gian để phục vụ”. Làm sao Mẹ có thể sinh ra Đấng đó nếu trước tiên Mẹ không sống đời phục vụ.

Biến cố viếng thăm bà Elisabeth là mẫu mực của đời sống phục vụ nơi Mẹ. Mẹ không chỉ mang Tin Mừng và chia sẻ niềm vui được làm mẹ của bà Elisabeth, Mẹ còn hiện thực việc chia sẻ đó bằng sự phục vụ bà Elisabeth sinh nở trong tuổi già (x. Lc 1, 39 – 56). Tại tiệc cưới Cana, Mẹ không tham dự như một khách mời xã giao, nhưng Mẹ đã hiện diện tại tiệc cưới như thể niềm vui của đôi tân hôn là niềm vui của chính mình. Nhờ thế Mẹ đọc được nét bối rối của chủ tiệc, và Mẹ đã không ngần ngại nói với Chúa Giêsu: “họ hết rượu rồi” (Ga 2, 3). Đó không đơn thuần là một lời tỏ bày qua loa, nhưng đó chính là hành vi quan tâm, chia sẻ, một sự phục vụ tận tình cho niềm vui của đôi tân hôn: “Người bảo gì các anh cứ làm theo” (Ga 2, 5). Mẹ sống giữa mọi người với một trái tim nhạy cảm yêu thương, để có thể đọc được nhu cầu giúp đỡ của người khác. Trong suốt ba năm rao giảng của Chúa Giêsu, Mẹ đã âm thầm cất bước theo gót chân Chúa để phục vụ cho công việc rao giảng của Chúa. Mẹ không đòi hỏi từ Chúa một điều gì cho chính mình. Mẹ hiểu sứ vụ của Chúa. Tình mẫu tử riêng tư Mẹ cũng hiến dâng. Tất cả để phục vụ cho chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa.

Cung cách phục vụ của Mẹ vừa mang tính nhân bản vừa đậm nét tinh thần Tin Mừng. Mẹ phục vụ không đơn thuần là nhằm đáp ứng những nhu cầu trần thế, nhưng hành vi phục vụ luôn chiếu sáng sứ điệp cứu chuộc của Thiên Chúa Yêu thương. Thánh Ý Thiên Chúa và cuộc đời Chúa Giêsu, con Mẹ, luôn là động lực cho mọi hành động mang tính phục vụ của Mẹ. Do đó sự phục vụ trở thành là qùa tặng cho tha nhân. Quà tặng được gói ghém bởi một tình yêu cho đi, từ bỏ chính mình, chấp nhận những mất mát thòi, một tình yêu biết lo lắng quan tâm đến hạnh phú của tha nhân. Quà tặng gói ghém trọn vẹn sứ vụ của Chúa Giêsu, Đấng yêu thương nhân loại, yêu đến nỗi hiến trao chính mình đế cho nhân loại được sống.

Người linh mục được chọn gọi cũng nhằm phục vụ cho sự sống vĩnh hằng của tha nhân. Bởi đó khi trối lại Mẹ cho người linh mục, Chúa Giêsu chắc chắn muốn người môn đệ hãy sống với Mẹ và học với Mẹ cách sống phục vụ của Mẹ. Có nghĩa là đời linh mục cũng phải trở nên qùa tặng cho đàn chiên.

“Nầy là Mẹ con”, một di sản quí giá Chúa trối lại cho Giáo hội, cách riêng cho các linh mục của Chúa. Mẹ trở thành Mẹ của Linh mục, trở thành trường học của đời linh mục. Chính nơi Mẹ, người linh mục học được bài học trung thành và tinh thân phục vụ. Như Mẹ Maria “đã tận hiến làm tôi tớ Chúa, phục vụ cho thân thế và sự nghiệp của Con Mẹ và phục vụ mầu nhiệm cứu chuộc” (LG 56), người linh mục cũng đặt mình là “tôi tớ mọi người” để rao giảng Lời Chúa, để hiện tại hóa Hy lễ Thập giá không những trên bàn thờ mà còn chính trong đời sống của mình, và để phục vụ cho phần rỗi của anh chị em.

LM. Hà Văn Minh
VietCatholic News (26/01/2007)