|
Lễ Nhớ: Ngày 15 tháng 10
St.
Thérèse of Avila
Tiến Sĩ Hội Thánh
(1515-1582)
Thánh Têrêsa Avila sống trong thời
kỳ nhiều khai phá cũng như nhiều biến động chính trị, xã hội và
tôn giáo. Ðó là thế kỷ 16, thời của hỗn loạn và cải tổ. Cuộc
đời của thánh nữ bắt đầu với sự cực thịnh của phong trào
Cải Cách Tin Lành, và từ những biến động đó Têrêsa đã xuất
hiện để vạch ra một con đường dẫn đi từ những xáo trộn bên
ngoài đến sự bình an bên trong.
Cha của Têrêsa là người sùng
đạo và thành thật, nhưng có lẽ ông đã quá khắt khe. Mẹ của
Têrêsa thích đọc tiểu thuyết nhưng vì chồng phản đối, bà phải
giấu giếm những cuốn sách này. Ðiều đó cũng ảnh hưởng đến
Têrêsa vì ngài cũng thích đọc tiểu thuyết. Cha ngài bảo không
được nói dối nhưng mẹ ngài lại dặn "đừng nói cho cha con
biết"!
Khi lên năm tuổi, ngài thuyết phục
được người anh rằng họ phải "đi đến phần đất của người
Moor và xin họ cắt đầu chúng ta, vì tình yêu Thiên Chúa." Cả hai
đi khá xa khỏi thành phố thì ông cậu bắt gặp và đem về. Có
nhiều người dùng câu chuyện này (được ngài viết lại trong cuốn
Cuộc Ðời) như một dấu chỉ của sự thánh thiện của ngài ngay từ
thơ ấu, nhưng cũng có người cho rằng đây là một thí dụ cho thấy
ngay từ nhỏ ngài đã có thể gây rắc rối.
Sau biến cố ấy ngài sống một đời
bình thường, dù rằng ngài luôn nghĩ mình là người tội lỗi kinh
khủng. Khi đến tuổi thiếu niên, ngài chỉ nghĩ đến mấy tên con trai
và y phục quần áo, chơi đùa và phá phách - như mọi thiếu niên
trong bất cứ thời đại nào khác. Khi lên 16 tuổi, cha ngài cho rằng
không thể dạy được ngài nên đã cho đi tu. Lúc đầu ngài chán
ghét, nhưng từ từ ngài cảm thấy vui thích - một phần là vì tình
yêu Thiên Chúa triển nở hơn, một phần là vì tu viện ít khắt khe
hơn cha của ngài.
Tuy nhiên, khi đến lúc phải quyết
định giữa hôn nhân và đời sống tu trì, ngài phải mất nhiều
thời gian để suy nghĩ. Ngài đã từng nhìn thấy hôn nhân không
hạnh phúc của mẹ mình. Ðằng khác, là một nữ tu thì dường như
không có gì vui. Sau cùng, ngài chọn đời sống tu trì là vì ngài
nghĩ rằng đó là nơi duy nhất thật an toàn để tránh xa dịp tội.
Một khi đã khấn trọn
là nữ tu Camêlô, ngài bắt đầu học hỏi và thực tập cách cầu
nguyện bằng trí óc, trong đó ngài "thật vất vả để giữ Chúa
luôn hiện diện trong đầu
Trí tưởng tượng của tôi quá cùn
đến nỗi tôi không tài nào tưởng tượng được hoặc có được
một tư tưởng thần học nào vĩ đại." Têrêsa tiếp tục cầu
nguyện theo phương cách đó trong vòng mười tám năm mà không cảm
thấy đạt được kết quả. Một
phần là vì tu viện không phải là nơi an toàn như ngài nghĩ.
Nhiều phụ nữ không
biết đi đâu nên cuối cùng chui vào tu viện, dù có ơn gọi hay
không. Các nữ tu chế kiểu khăn trùm đầu sao cho hấp dẫn và họ
đeo nữ trang. Uy tín không tùy thuộc lòng đạo đức nhưng là tiền
của. Trong phòng khách luôn luôn có khách đến thăm, và những
buổi liên hoan đều có các thanh niên tham dự. Ðời sống tinh thần
lúc đó chỉ là sự cuông nhiệt, than van khóc lóc, và tự cho
rằng mình được thụ khải.
Thánh Têrêsa gặp những khó khăn
như của Thánh Phanxicô Assisi - vì ngài thật duyên dáng. Ai ai cũng
thích ngài và ngài cũng thích được như vậy. Ngài cảm thấy thật
dễ để sa vào đời sống trần tục và quên Chúa. Tu viện khuyến
khích ngài có thêm nhiều khách để ngài dạy họ cách cầu nguyện
bằng tâm trí, vì quà biếu xén của khách giúp cho tình trạng kinh tế
của nhà dòng. Nhưng Têrêsa lại thích được tâng bốc, thích sự
phù hoa và ngồi lê đôi mách hơn là hướng dẫn tinh thần. Ðó
không phải là những tội nặng, nhưng chúng đã khiến ngài xa cách
Thiên Chúa.
Và rồi Têrêsa bị bệnh sốt rét.
Khi ngài lên cơn bệnh, ai ai cũng nghĩ là ngài sẽ chết, và bốn
ngày sau, khi tỉnh dậy ngài thấy họ đang đào huyệt cho mình. Sau đó
ngài bị tê liệt trong ba năm và không bao giờ hoàn toàn lành lặn.
Tuy nhiên, thay vì giúp ích cho đời sống tinh thần, bệnh hoạn lại là
cái cớ để ngài chấm dứt cầu nguyện: tôi chưa thể ở một mình,
tôi chưa khỏe mạnh đủ, vân vân
Sau này ngài viết, "Cầu
nguyện là một hành động của tình yêu, lời nói không còn cần
thiết. Ngay cả khi bệnh tật làm chia trí, những gì cần thiết là ao
ước muốn yêu Chúa."
Trong nhiều năm, ngài không thể nào
cầu nguyện "dưới cái vỏ khiêm tốn." Ngài nghĩ một người
tội lỗi như ngài không thể nào được Chúa nhận lời. Nhưng tách
khỏi sự cầu nguyện thì giống như "em bé rời xa vú mẹ, còn
trông mong gì hơn là cái chết?"
Khi 41 tuổi, một linh mục khuyên ngài
trở về với sự cầu nguyện, nhưng ngài vẫn cảm thấy khó khăn.
"Tôi nóng lòng mong đợi giờ cầu nguyện trôi qua hơn là
được ở đó." Ngài thường xuyên bị chia trí: "Tâm trí
tôi xáo động như một người điên mà không ai có thể cầm giữ
được." Têrêsa thông cảm với những ai khó cầu nguyện:
"Tất cả những thử thách mà chúng ta phải trải qua không thể
nào so sánh được với cuộc chiến nội tâm."
Tuy nhiên cảm nghiệm của ngài đã
đem lại cho chúng ta một diễn tả tuyệt vời về sự cầu nguyện
bằng tâm trí. "Ðối với tôi sự cầu nguyện bằng tâm trí thì
không gì khác hơn là sự chia sẻ thân tình giữa hai người bạn;
có nghĩa thường xuyên dành thời giờ để ở một mình với
Người mà chúng ta biết là yêu thương chúng ta. Ðiều quan trọng
không phải là suy nghĩ nhiều, nhưng là yêu nhiều, và như vậy hãy
làm những gì giúp khích động chúng ta yêu thương nhiều hơn. Tình
yêu không phải là vui sướng lớn lao mà là sự khao khát làm hài
lòng Thiên Chúa trong mọi sự."
Khi ngài bắt đầu cầu nguyện trở
lại, Thiên Chúa đã ban cho ngài niềm vui tinh thần đến độ ngập
tràn nhận thức. Có khi thân thể ngài nhấc khỏi mặt đất. Khi cảm
thấy Chúa sắp nâng thân thể mình lên, thì ngài nằm dài trên đất
và gọi các nữ tu khác ngồi lên trên để đè xuống. Không bị
khích động bởi những biến cố ấy, ngài "xin Chúa đừng ban cho
con ơn huệ nào khác mà người ta thấy được."
Trong sách ngài viết lại, ngài phân
tích và mổ xẻ những cảm nghiệm huyền bí theo kiểu cách của một
khoa học gia. Ngài không bao giờ coi đó là những phần thưởng của
Thiên Chúa nhưng đó là cách Chúa "trừng phạt" ngài. Càng
cảm nhận được tình yêu bao nhiêu, càng khó làm mất lòng Chúa
bấy nhiêu. Ngài nói, "Tưởng nhớ đến những ơn sủng mà Chúa
đã ban thì giúp người ta trở về với Chúa hơn là tất cả các
hình phạt hỏa ngục có thể tưởng tượng được."
Lỗi lầm lớn nhất của ngài là
tình bạn. Mặc dù ngài không sa ngã, nhưng ngài rất quyến luyến các
bạn hữu, cho đến khi Chúa bảo "Thầy không muốn con chuyện vãn
với loài người nhưng với các thiên thần."
Tuy nhiên, một số bạn hữu không thích những gì đang xảy ra cho ngài
nên họ đã đề cập đến việc "chữa trị" cho ngài. Cho rằng
ngài bị ma quỷ lừa dối, họ gửi một linh mục dòng Tên đến để
xem xét. Vị linh mục đảm bảo với ngài là những cảm nghiệm đó
xuất phát từ Thiên Chúa, nhưng khi mọi người biết chuyện, họ
đều chế diễu ngài.
Một cha giải tội tin chắc đó là ma
quỷ đã bảo ngài làm một hành động tục tĩu mỗi khi nhìn thấy
Ðức Giêsu. Ngài sợ hãi nhưng đã thi hành theo lệnh và luôn luôn
xin lỗi Ðức Giêsu. May mắn, Ðức Giêsu không giận nhưng bảo là
ngài làm đúng, vì đã tuân lệnh cha giải tội. Trong cuốn tự
truyện ngài viết, "Tôi sợ những người kinh khiếp ma quỷ hơn
là sợ chính ma quỷ." Ma quỷ thì không phải sợ, nhưng phải
chiến đấu với chúng bằng ý chí và ơn sủng của Thiên Chúa.
Têrêsa tin rằng những vui sướng
ngất ngây là được Chúa ban vì những cảm nghiệm đó đã đem cho
ngài sự bình an, sự phấn khởi, và can đảm. "Nếu không có
những tâm tình này tôi không nghĩ là sự ngấy ngây xuất phát
từ Thiên Chúa; ngược lại tôi sẽ cho là vì bệnh dại."
Tuy nhiên, nhiều lần ngài không thể
không than thở với người Bạn chí thân của ngài về thái độ
thù nghịch và đàm tiếu của những người chung quanh ngài. Khi Ðức
Giêsu nói, "Têrêsa, đó là cách Thầy đối xử với bạn của
Thầy", Têrêsa đáp lại, "Hèn chi Chúa không có nhiều
bạn." Nhưng vì Ðức Kitô không có nhiều bạn, nên thánh nữ
cảm thấy hãnh diện khi được là một trong những người ấy. Và
đó là lý do ngài quyết định cải tổ dòng Camêlô.
Khi 43 tuổi, ngài quyết định thành
lập một tu viện mới (Thánh Giuse) với các quy luật của một dòng
chiêm niệm: với đời sống đơn giản, khó nghèo, tận hiến cho sự
cầu nguyện. Ðiều này nghe có vẻ dễ dàng. Nhưng không phải vậy.
Khi kế hoạch được tiết lộ, ngài
bị chống đối ngay từ trong dòng, các nữ tu yêu cầu ngài gây quỹ
cho tu viện mà ngài đang ở trong đó, và họ hăm dọa sẽ đưa ngài
ra Tòa Thẩm Tra. Cả thành phố chống đối ngài. Tất cả chỉ vì ngài
muốn một đời sống đơn giản để cầu nguyện. Ðối phó với một
cuộc chiến đã rộng mở, ngài thật điềm tĩnh, tin tưởng vào
Thiên Chúa.
"Xin Chúa đừng ban cho con những
vị thánh hay buồn sầu," đó là điều Thánh Têrêsa cầu xin và
là cách ngài điều hành tu viện. Ðối với ngài, đời sống tinh
thần là một quan điểm về tình yêu, chứ không phải quy luật. Mặc
dù ngài chủ trương khó nghèo, nhưng ngài tin tưởng vào sự làm
việc, không đi xin ăn. Ngài tin tưởng vào sự tuân phục Thiên
Chúa hơn là sự hãm mình phạt xác. Nếu bạn làm điều gì sái
quấy, đừng tự phạt mình - nhưng hãy thay đổi. Khi có ai cảm thấy
buồn chán, lời khuyên của ngài là hãy đi dạo để thấy cảnh
đẹp của trời đất. Khi có người bàng hoàng vì thấy ngài ăn
uống đầy đủ, ngài trả lời, "Có lúc ăn chay thì cũng có
lúc ăn thịt." Khi người anh của ngài muốn suy niệm về hỏa
ngục, ngài can gián là "Ðừng."
Một khi đã có tu viện của riêng
mình, thì đời sống ngài chắc sẽ êm đềm? Không phải vậy. Thánh
nữ tin rằng một lời cầu nguyện có sức mạnh và hữu hiệu là
lời cầu nguyện dẫn đến hành động. Kết quả tốt thì hữu ích hơn
những cảm giác sung sướng đạo đức khi cầu nguyện.
Tại tu viện Thánh Giuse, ngài dành
nhiều thời giờ để viết cuốn Cuộc Ðời. Ngài viết không vì vui
thích mà được lệnh phải viết. Có nhiều người thắc mắc về
những cảm nghiệm của ngài, và cuốn sách này sẽ thanh minh hoặc
kết án ngài. Do đó, ngài phải dùng những chữ để ngụy trang sau
những ý tưởng thầm kín. Tòa Thẩm Tra muốn như vậy và đã giải
oan cho ngài.
Khi được 51 tuổi, ngài
cảm thấy đã đến lúc phải phát động phong trào cải cách. Ngài
chịu đựng nắng mưa, bão tuyết, trộm cắp và lang thang, sống tạm
trong những nơi đầy chuột bọ để thành lập các tu viện mới. Nhưng
những trở ngại đó vẫn còn dễ so với những gì ngài phải đối
phó với các tu sĩ nam nữ. Một sứ thần tòa thánh gọi ngài
"là người hiếu động, bất tuân phục, thích lang thang muốn đi rao
giảng tưởng mình là bậc thầy." Khi tu viện cũ bầu ngài làm bề trên, vị bề trên tổng quyền
dòng Camêlô đã ra vạ tuyệt thông các nữ tu đó. Một giám mục
phụ tá đặt văn phòng ngay ngoài cửa nhà dòng để ngăn chặn
không cho ngài đi ra ngoài. Các dòng khác chống đối ngài ra mặt ở
bất cứ đâu ngài đến. Ngài thường phải lén lút vào phố lúc
nửa đêm để tránh gây náo động.
Tại sao mọi người lại
bực mình? Thánh nữ trả lời, "Dường như bây giờ chẳng còn
ai muốn yêu mến Ðức Kitô cách chân thành." Không ai trong dòng
tu hay trong xã hội muốn Têrêsa nhắc nhở họ về con đường mà
Thiên Chúa muốn họ phải theo.
Thánh Têrêsa nhìn đến những khó
khăn này như một cơ hội để mọi người biết đến. Từ từ, các
đệ tử đổ về tu viện của ngài. Nhiều người suy nghĩ lại những
gì ngài nói, và họ muốn học cách cầu nguyện của ngài. Không bao
lâu, cách cầu nguyện của ngài lan tràn không chỉ nước Tây Ban Nha
mà còn khắp Âu Châu.
Vào năm 1582, ngài được một tổng
giám mục mời thành lập một tu viện, nhưng khi ngài đến nơi giữa
cơn mưa như thác lũ, đức tổng đã ra lệnh ngài quay về. Không oán
trách, không than van, Thánh Têrêsa viết lại, "Thời tiết cũng
thật thú vị." Dù đang đau nặng, ngài được lệnh đến chăm
sóc một bà quý tộc đang chuyển bụng để sinh nở. Nhưng khi đến
nơi, đứa bé đã chào đời, và ngài than thở, "Nói cho cùng,
người ta không cần đến vị thánh." Vì kiệt sức ngài không
thể ra về được và từ trần ngày
4/10/1582, hưởng thọ 67 tuổi.
Ngài là người sáng lập dòng
Camêlô Hèn Mọn, và được Đức Giáo Hoàng Gregorius XV tôn
phong hiển thánh năm 1622. Vào năm 1970, ngài
được Đức Giáo Hoàng Paul VI tuyên xưng là Tiến Sĩ Hội Thánh vì những văn bản và giáo
huấn của ngài về sự cầu nguyện. Thánh nữ là người phụ nữ đầu tiên được liệt vào số những vị thánh nhận được tước hiệu vinh dự ấy.
Lời Bàn
Ngày nay chúng ta sống trong một thời
đại nhiều xáo trộn, thời đại cải tổ và thời đại giải phóng.
Các phụ nữ thời đại có thể nhìn đến Thánh Têrêsa như một
thách đố. Thúc giục canh tân, thúc giục cầu nguyện, tất cả đều
có trong con người Têrêsa, là người đáng khâm phục và đáng
để chúng ta noi gương.
Lời Trích
Thánh Têrêsa hiểu rõ giá trị của
sự đau khổ liên tục (bệnh tật thể xác, không muốn cải tổ, khó
khăn cầu nguyện), nhưng ngài đã luyện tập để có thể chịu đau
khổ, ngay cả khao khát đau khổ: "Với Chúa, hoặc là đau khổ
hoặc là chết." Cho đến gần cuối đời, ngài đã kêu lên:
"Ôi lạy Chúa! Thật đúng là bất cứ ai làm việc cho Ngài đều
được trả bằng những khó khăn! Và điều đó có giátrị vô
cùng cho những ai yêu mến Ngài, nếu chúng con hiểu được giá trị
của nó."
(Trích Gương Thánh Nhân - ns
Người Tín Hữu online)
|